Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
Tiêu điểm
Một số dạng vượn - người và...
Quá trình tiến hóa của các ngôi sao
Lược sử các phát minh
Những tia lazer vô tuyến thiên...
Sự tìm kiếm chất đen - thấu...
Kỹ thuật vô tuyến phục vụ...
Kế hoạch tìm kiến phân tử...
Những người được giải thưởng...
Lịch sử hình thành trái đất
Những chặng đường của kỷ...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Văn minh thế giới   Khoa học-Kỹ thuật với nền văn minh Nhân loại & Dự báo thế kỷ XXI   Trái đất và lịch sử ra đời của nó


NIÊN ĐẠI ĐỊA CHẤT

NIÊN ĐẠI ĐỊA CHẤT

 

Niên đại địa chất là sơ đồ về thứ tự các sự kiện trong lịch sử Trái đất, dựa trên sự nghiên cứu các chu kỳ biến vị, xâm thực, núi lửa, biển tiến, biển lùi và chủ yếu dựa vào các hóa thạch. Nhưng các trầm tích thuộc những thời đại cổ nhất trong lịch sử Trái đất không chứa hóa thạch vì các sinh vật đầu tiên xuất hiện trên Trái đất không có bộ xương hay vỏ cứng để có thể được bảo tồn trong lớp trầm tích. Dưới tác dụng của nhiệt, khí và hơi nước thoát từ những thể thâm nhập rất phong phú, hoặc vì nằm rất sâu dưới lớp trầm tích trẻ hơn và cũng do ảnh hưởng của nhiệt nên các trầm tích đó hoàn toàn bị biến đổi thành phần ban đầu, có bề ngoài mới hơn và bị biến thành loại đá gọi là đá biến chất.

Các thời đại cổ nhất kéo dài rất lâu, nhưng chỉ vào giai đoạn cuối, khi sự sống đã phát triển và phân hóa nhiều hơn, thì mới thấy hóa thạch xuất hiện trong các địa tầng trầm tích; những hóa thạch đó chủ yếu là các loại rong tảo có thể tạo thành lớp trầm tích dầy, những vết in hằn của sứa và bọt biển và những dạng coi như là giáp xác đầu tiên, những san hô nguyên thuỷ và những di tích của các vết giun bò. Đời sống hãy còn hầu như khu biệt trong nước, các lục địa hãy còn hoàn toàn là sa mạc.

Các thời đại cổ xưa nhất của lịch sử hình thành vỏ Trái đất bắt đầu với sự tạo thành đá trầm tích đầu tiên mang tên là nguyên đại Thái cổ (Akeozoi). Một nguyên đại kéo dài rất lâu, trong trường hợp này nó kéo dài vài nghìn triệu năm. Các thành hệ nguyên đá của nguyên đại Thái cổ hãy còn chưa chứa hóa thạch, nhưng sự có mặt của Carbon dưới dạng than chì và những lớp dày đá vôi có thể coi như có lẽ được tạo thành từ bùn vôi hữu cơ. Do đó, người ta cho rằng sự sống đã xuất hiện ngay thời kỳ cuối của nguyên đại này.

Trong nguyên đại tiếp theo, các đá trầm tích không bị phá hoại mạnh bằng nguyên đại Thái cổ, nhưng cũng khó phân biệt vì tác dụng huỷ hoại cũng lan dần từ loại trước sang loại sau. Thời kỳ này mang tên là nguyên đại Nguyên sinh (Proterozoi). Các đá đã chứa những di tích không chối cãi được của động vật và thực vật.

Cả hai nguyên đại này thường được phối hợp thành một và gọi là Criptozoi hay Tiền Cambri. Ngoài ra, nguyên đại Nguyên sinh còn phân cách với nguyên đại Thái cổ bởi một khoảng trung gian dài trong đó các đá Thái cổ bị biến vị và có nhiều hiện tượng xâm nhập rộng lớn, tiếp theo đó các núi uốn nếp sinh ra do biến dị đều bị xói mòn trước khi các trầm tích Nguyên sinh bắt đầu trầm đọng.

Những khoảng cách kéo dài và đặc trưng đó có thể coi như là những dấu hiệu tốt nhất để phân biệt những nguyên đại với nhau. Những khoảng cách đó nói lên về những hiện tượng trong biến vị và xói mòn nhiều hơn là hiện tượng trầm tích, cho nên tất nhiên không chứa hóa thạch và vì vậy khó xác định thời gian kéo dài của chúng. Về niên đại người ta kết hợp chúng với niên đại trước mà chúng đánh dấu giai đoạn cuối cùng.

Nguyên đại Nguyên sinh cũng tận cùng bằng một khoảng trung gian sau đó bắt đầu nguyên đại Cổ sinh. Nguyên đại Cổ sinh đã bắt đầu chứa nhiều di tích của sự sống muôn hình muôn vẻ và phát triển nhanh chóng. Nhờ các hóa thạch phong phú người ta đã có thể chia nguyên đại Cổ sinh thành nhiều kỷ nguyên là những khoảng thời gian ngắn hơn. Cụ thể là các kỷ Cambri, Ocdovic, Silua, Đêvôn, Carbon, Pecmi. Nguyên đại này đặc trưng bởi sự có mặt đông đảo của các lớp động vật và thực vật bậc thấp. Trong nguyên đại này người ta thấy có hai chu kỳ kiến tạo: Calêđôni Varixi, mỗi chu kỳ lại gồm nhiều giai đoạn, nhiều chu kỳ xâm thực và phún xuất núi lửa, hai hay ba đợt biển tiến lớn, một đợt biển lùi rộng rãi và một thời kỳ băng hà vào lúc cuối.

Trong kỷ Cambri đời sống hãy còn tập trung ở nước trong lúc đó lục địa chỉ là sa mạc. Khi đó đã có một số lượng lớn những giáp xác (trùng ba lá), những loại động vật hình chén cổ (là loại trung gian giữa bọt biển và san hô), các uyển túc đầu tiên, các loại chân bụng đầu tiên; còn về thực vật thì rong tảo là chủ yếu. Vào lúc đầu của thời kỳ giữa kỷ có một đợt biển tiến rộng rãi xảy ra ở Sibir, trong khi đó đến thời kỳ bắt đầu cuối kỷ đã thấy xảy ra lần đầu tiên những biến vị của chu kỳ Calêđôni và có sự tăng cường của tác dụng phún xuất núi lửa.

Kỷ Ocđovic Kỷ Silua kết thúc thời kỳ ưu thế của đời sống dưới nước vì vào hồi cuối kỷ Silua đã thấy có những động vật lục địa đầu tiên (bọ cạp) và thực vật trên cạn đầu tiên (cây lộ trần) xuất hiện các loại giáp xác và uyển túc chiếm ưu thế trong các biển, nhưng các loại chân đầu, bút thạch, san hô và những giống cá đầu tiên đã đều xuất hiện. Các loại động vật hình chén cổ biến mất. Người ta quan sát thấy phát triển hai lần của chu kỳ kiến tạo Calêđôni vào giai đoạn giữa và cuối kỷ dẫn tới hiện tượng biển lùi và hiện tượng phún xuất tăng cường.

Kỷ Đêvôn đặc trưng bởi sự lan tràn rộng rãi của các thực vật lục địa. Các loại cá, chủ yếu là những dạng có giáp cứng đã hoàn thành quá trình phát triển mạnh mẽ; không những chúng chỉ sống trong biển, mà còn ở cửa sông và vụng, và có lẽ đã có loại cố gắng bò lên đất liền vì có một số thở được cả bằng phổi; người ta cũng tìm thấy những di tích của loại lưỡng cư sống ở lục địa lần đầu tiên. Các loại uyển túc, động vật nhuyễn thể, san hô và những loại giáp xác khổng lồ cũng đều phát triển sinh sản rất mạnh ở các biển, trong khi đó thì các loại bút thạch biến mất và các loại trùng ba lá cũng giảm sút rõ rệt về số lượng. Lần cuối cùng của chu kỳ Calêđôni vào đầu kỷ gây ra một đợt biển lùi rất rộng lớn. Đợt này được tiếp theo bằng một đợt biển tiến vào giai đoạn giữa kỷ, chu kỳ kiến tạo Varixi bắt đầu vào cuối kỷ. Hoạt động núi lửa rất mạnh mẽ, đặc biệt vào giai đoạn đầu và cuối kỷ Đêvôn.

Kỷ Cacbon đặc trưng bởi sự lan tràn rất khác thường của thực vật trên đất và đặc biệt là những loại ẩn hoa. Chúng tạo thành rừng trên các bờ biển lầy lội và sinh ra rất nhiều lớp than dày ở nhiều nơi. Các loại lưỡng cư khác sống trong các rừng, loại bò sát bắt đầu xuất hiện và có những sâu bọ khổng lồ (chuồn chuồn, bọ rầy và bươm bướm). Các trùng ba lá lúc đó đang dần dần bị tiêu diệt trong các biển, các loại san hô, uyển túc, nhiều loại nhuyễn thể và có nhiều loại động vật chân rễ phát triển mạnh mẽ. Còn đối với động vật có xương sống thì các loại cá mập giữ vai trò chủ yếu. Nhiều lần chu kỳ Varixi đã gây ra những đợt biển lùi và những trận phún xuất núi lửa.

Kỷ Pecmi khác kỷ Carbon ở chỗ: có hiện tượng khí hậu trở thành khô và tạnh, sinh ra tác dụng băng hà rộng lớn ở Nam bán cầu; có sự phát triển các sa mạc, sự giảm bớt các biển và tạo thành những lớp muối dày trong các vùng biển ở Bắc bán cầu.

Các quá trình này đều liên quan tới các chu kỳ biến vị Varaxi là thời kỳ tạo nên những dãy núi và gây ra nhiều đợt biển lùi, hiện tượng núi lửa tăng rất mạnh. Có nhiều loại bò sát ăn thịt và ăn cỏ đã bắt đầu xuất hiện trên lục địa. Thời kỳ này có nhiều loài của thực vật thời Carbon bị tiêu diệt và có những dạng mới xuất hiện ở các rừng; mặt khác cũng có nhiều lớp than được tạo thành ở nhiều chỗ khác nhau. Các loài trùng ba lá bị tiêu diệt hoàn toàn, trong khi đó loại chân đầu đặc biệt là các loại cúc thạch lại phát triển rất mạnh.

Nguyên đại Trung sinh hay là nguyên đại của sự sống vào giai đoạn trung gian được chia thành các kỷ: Triat, Jura Crêta. Vào nguyên đại này, có nhiều loại bò sát, động vật nhuyễn thể, thực vật có tổ chức cao hơn như các loài tùng, bách và Sagu phát triển. Nhiều chu kỳ xâm thực và phún xuất núi lửa và chu kỳ Mezozoi đã gây ra những đợt biển tiến, biển lùi và làm biến đổi bộ mặt của Trái đất.

Kỷ Triat là thời kỳ tương đối yên tĩnh của vỏ Trái đất. Hiện tượng biển lùi lan rộng giữa kỷ, còn biển tiến xảy ra trong cuối kỷ. Các loài bò sát với những đại biểu thuốc tất cả các nhóm chính đã chiếm ưu thế trên mặt đất. Động vật có vú đầu tiên xuất hiện vào cuối kỷ. Có nhiều cúc thạch khác nhau và nhiều loại bò sát sinh sống trong các biển.

Kỷ Jura đặc trưng bởi sự phát triển mạnh của tạo sơn do những đợt biển lùi và sự lan rộng của thực vật lục địa. Các loại thực vật này đã sinh ra hàng loạt những bể than; về than kỷ này chỉ thua than kỷ Cacbon. Thời kỳ này, loại bò sát đạt ưu thế tuyệt đối trên mặt đất và ở biển, nó gồm rất nhiều loài cộng thêm với các nhóm cúc thạch và tiễn thạch đồng thời còn có loại hai mảnh, san hô tạo ám tiêu và cầu gai đều phát triển và phồn thịnh trong các biển. Các loài chim đầu tiên bắt đầu xuất hiện và đua tranh với những loại bò sát biết bay. Núi lửa hoạt động mạnh vào cuối kỷ.

Kỷ Crêta đặc trưng tạo sơn hoạt động mạnh mẽ, biển lùi rất rộng lớn vào thời kỳ đầu và tiến vào thời kỳ cuối do sự tăng cường hoạt động của núi lửa. Nhiều loài cây cối có lá rộng bản đầu tiên và các loại biển hoa hạt kín xuất hiện. Hệ động vật có những nét chính giống như kỷ Jura. Ngoài ra, có sự xuất hiện của những động vật chân rễ và nhiều loại bọt biển cũng như những trầm tích của các tầng lớp phấn tắng đểu là những nét đặc trưng. Đây cũng là thời kỳ các loại cúc thạch bị tiêu diệt và sự phát triển của những loại hai mảnh khổng lồ bắt đầu diễn ra. Chim gồm những loại có răng.

Nguyên đại Tân sinh, được chia thành kỷ Đệ tam Đệ tứ. Sau hàng loạt những biến đổi xảy ra trong nguyên đại này thì mặt ngoài Trái đất và sự phân bố của những lục địa, đại dương, núi, cao nguyên và miền đất thấp đều đạt được tình trạng bình ổn hiện tại. Các loài bò sát trong nguyên đại Trung sinh đến đây chuyển sang cho các động vật có vú và chim, loài người xuất hiện vào cuối nguyên đại này và đã trở thành vị chúa tể của Trái đất. Các cây nhiều lá và các loại hoa thảo giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong thế giới thực vật. Phần gần thời hiện đại của nguyên đại này có nét độc đáo là hiện tượng giá lạnh rất mạnh của khí hậu và sự phát triển của nhiều thời kỳ băng hà.

Kỷ Đệ tam đặc trưng bởi nhiều lần của chu kỳ biến vị Anpi xảy ra, trong các miền thuộc nguyên đại Trung sinh và các miền ven rìa của Thái Bình Dương, dần dần làm cho địa hình của Trái đất và sự phân bố các lục địa và biển gần giống  nhu hiện nay.  Những vận động mạnh mẽ đó làm tăng hoạt động núi lửa một cách đặc biệt và sinh ra vành đai núi lửa và động đất quanh Thái Bình Dương.

Các động vật có vú, nhiều loại chim, các cây có nhiều lá và loài hoa thảo sinh sản rất nhanh, chiếm ưu thế trên mặt đất. Thời kỳ này nhiều loại có vú (cá voi và loại có chân bơ bắt đầu giữ một vai trò quan trọng trong biển; có những loại chân rễ khổng lồ (trùng tiễn), những loại hai mảnh va chân bụng tạo ra những tầng dày, trong khi đó thì các loại Cúc thạch và Tiễn thạch biến mất vào cuối thế kỷ, khí hậu trở nên rất lạnh và giai đoạn băng hà đầu tiên mang tên là GunZi được coi như thuộc vào thời này.

Kỷ Đệ tứ là kỷ còn đang tiếp diễn và cũng được gọi là Nhân sinh để nói lên vai trò chủ chốt của loài người, xảy ra vào lần cuối của chu kỳ Anpi cho đến tình trạng hiện nay của Trái đất. Các đợt xen kẽ giữa khí hậu lạnh và nóng là nguyên nhân của ba thời kỳ băng hà Minđêli, Rixi và Vuôcmi, cách nhau bằng những giai đoạn gian băng. Có hiện tượng dật cư của hệ động vật ở miền băng hà gần Bắc Băng Dương di chuyển xuống miền Nam và lấn át các động vật ưa nóng làm chúng bị tiêu diệt hoặc phải di chuyển xa hơn về phương Nam. Trong những giai đoạn gian băng mực nước đại dương dâng nên, vì nước các khối băng hà tan ra. Có hiện tượng biển tiến (và trong các giai đoạn đóng băng là biển lùi). Vào hồi giữa Kỷ Đệ tứ, loài người xuất hiện ở nhiều địa điểm khác nhau.

Ngoài ra, cũng có những chỗ bị sụt và nước lấn vào những miền lục địa cũ ở phần Đông của biển Địa Trung Hải, ở phần Nam của Hắc Hải và ở phía Bắc và Đông Sibir khiến cho đảo Xakhalin bị tách rời khỏi lục địa; rồi có những hố sụt sinh ra hồ như dãy hồ ở Châu Phi, các địa hào (graben) ở Hồng Hải biển Chết và hồ Bai Kan. So với Kỷ Đệ tam, tác dụng núi lửa yếu dần.

Dưới đây là bảng niên đại của lịch sử Trái đất

Nguyên đại                 (Giới) Kỷ (Hệ)

1. Thái cổ                    Criptozoi

2. Nguyên sinh

3. Cổ sinh                    Cambri

                                    Ocdovic, Silua

                                    Đêvôn

                                    Carbon

                                    Pecmi

4. Trung sinh              Triat

                                    Jura

                                    Fanerozoi

                                    Crêta

5. Tân sinh                  Đệ tam

                                    Đệ tử

           

 

 

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Văn minh thế giới   Khoa học-Kỹ thuật với nền văn minh Nhân loại & Dự báo thế kỷ XXI   Trái đất và lịch sử ra đời của nó
Lịch sử hình thành trái đất
Những biến đổi của bề mặt Trái đất
Niên đại địa chất
Tính tuổi của trái đất
Sự hình thành các lục địa và đại dương. Thuyết kiến tạo mảng
Những số liệu chủ yếu
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google