Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
Tiêu điểm
Du hành trong dải ngân hà
Chiến lược tìm kiếm dấu vết...
Các nguồn năng lượng mới
Những người được giải thưởng...
Pulsar, một đồng hồ thiên...
Phân tử hữu cơ trong vũ trụ....
Lịch sử hình thành trái đất
Các nhân tố chi phối sự hình...
Bối cảnh xuất hiện của con người
Ứng dụng của laser - một thành...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 BKTT Phổ thông   Toàn cảnh thế giới   Lịch sử thế giới


No tile

1800 - 1850:

NỀN ĐỘC LẬP VÀ KỸ NGHỆ

1800 -1850 THẾ GIỚI

Suốt trong thời gian này, cuộc Cách mạng Mỹ đã tác động rộng khắp châu Mỹ Hiệp Chủng Quốc, đất nước mới được độc lập, mau chóng mở rộng bờ cõi về phía Tây. Năm 1803, lấy được dải đất Lousiana rộng lớn từ tay người Pháp. Đất nước trẻ trung này thoạt tiên gây chiến với người Anh sau với người Mehico và tới năm 1848 lấy được Oregon và California đi tới Thái Bình Dương. Ở miền Trung và Nam Mỹ những thuộc địa của người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha nổi lên chống lại các chủ thuộc địa châu Âu để thành lập nền độc lập. Vào năm 1850 việc kiểm soát của người Âu trên châu Mỹ còn giới hạn ở Canada và những hòn đảo ở Caribbean

Sự lớn mạnh về kỹ nghệ. Ở Âu châu Napoléon giữ vững quyền lực của ông sau bối cảnh của cuộc Cách mạng Pháp và chiếm ưu thế trên lục địa cho tới khi ông thất trận vào năm 1815. Trật tự bảo hoàng xưa muốn lập lại quyền hành, nhưng hiệu quả hai mặt của cả việc kỹ nghệ hoá và tinh thần dân tộc thúc đẩy gia tăng sự căng thẳng đến độ cuối cùng nó bùng nổ ra năm 1848, khi mà các cuộc cách mạng lan tràn trên toàn bộ châu Âu. Cuộc cách mạng kỹ nghệ đã ảnh hưởng tới mọi khía cạnh của đời sống hằng ngày. Những thành phố kỹ nghệ khổng lồ mọc lên, các đường hoả xa được lắp đặt xuyên qua lục địa. Trong nỗ lực tìm kiếm nguyên vật liệu cho nền kỹ nghệ mới, các quốc gia lớn của châu Âu tiếp tục thành lập các thuộc địa ở châu Phi và châu Á.

1800 - 1850 - CHÂU PHI

Đầu thế kỷ 19 chứng kiến việc Ai Cập tách khỏi ách cai trị của người Ottoman và việc Ai Cập chinh phục Sudan. Tây Phi cũng bị ảnh hưởng khi có nhiều người châu Âu từ bỏ việc buôn bán nô lệ. Các vương quốc Hilani tiếp tục phồn vinh ở trong đất liền. Ở mạn Nam, trong cuộc đụng độ giữa người Anh và người Boer để giành quyền chiếm hữu đất đai và nô lệ, người Zulu xây dựng một đế quốc riêng làm thất bại sự định cư của người Boer ở phía Đông Nam.

1805 - Mohammed Ali cắt đứt với người Ottoman. Mohammed Ali là một sĩ quan Albania trong quân đội Thổ. Năm 1805 ông trở thành phó vương Ottoman ở Ai Cập, mặc dù có sự chống đối của Mahmud II, vị thủ lãnh Hồi giáo Ottoman ở Thổ. Sáu năm sau, sự chống đối của nhóm Mamluk ở Cairo, được Mahmud II khích lệ, ngày càng mạnh lên, vì thế Mohammed Ali cho mời các lãnh tụ Mamluk tới dự một nghi lễ và sai người ám sát họ. Ông được tự do cai trị Ai Cập ông cải tổ quân đội, tăng lợi tức cho chính phủ và khích lệ ngành giáo dục. Bông vải trở thành nguồn xuất khẩu chính và quyền lực được mở rộng tới Sudan.

Người Zulu. Vùng Đông Bắc địa hạt Natal là đất của ngước Zulu, họ hàng với những người Ngumi ở Đông Nam châu Phi. Từ 1816 Shad là người đứng đầu lãnh thổ Zulu. Shad sáp nhập được nhiều vùng Ngumi ở phía Bắc thành một quốc gia Zulu vĩ đại mới. Năm 1828 mấy anh em cùng cha khác mẹ của Shad đã cho người giết ông ta và Dingane, một trong số mấy người đó, trở thành vua. Khi người Boer đến Natal vào thời gian Great Trek (cuộc ra đi tập thể) Dingane tấn công họ. Thủ lãnh Boer, Retief bị giết. Năm 1838 người Boer trả thù, đánh bại Dingane, ông này phải chạy  về phía Bắc. Năm 1879 người Anh thắng người Zulu và năm 1879 đất Zululand bị sáp nhập vào Natal lúc này đã trở thành một thuộc địa tự trị của Anh.

1800 - 1850 - CHÂU Á

Cuộc giao tranh giữa các quyền lực Afghanistan làm cho nguồn lợi nhuận của Anh bị đe dọa. Ở Thái Lan, triều đại mới của Chakri mở rộng hoạt động buôn bán với các quốc gia châu Âu. Một đất nước Việt Nam thống nhất dưới triều vua Gia Long, và thành phố cảng Singapore được Stamford Raffles thành lập. Ở Trung Quốc cuộc buôn lậu thuốc phiện của người Anh là nguyên nhân gây ra chiến tranh giữa Trung Quốc và Anh.

1802: Gia Long thống nhất Việt Nam. Các nhà viết sử thời nhà Nguyễn và thời Pháp thuộc thường cho rằng người có công thống nhất Việt Nam là vua Gia Long. Thật ra chính Nguyễn Huệ là người đã chấm dứt tình trạng hỗn loạn gây ra bởi việc nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê (1527-1592) và cuộc phân tranh Trịnh Nguyễn (1627- 1672). Sau khi phá tan 20 vạn quân Thanh mưu toan xâm lược, dẹp chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Nguyễn Huệ đã thật sự thống nhất nước nhà, lên ngôi Hoàng đế Quang Trung. Sau khi Nguyễn Huệ mất (1792) nội bộ Tây Sơn bất hòa, làm mất lòng dân, Nguyễn Ánh, hậu duệ của Chúa Nguyễn mới tạo nên sự nghiệp với danh hiệu Gia Long, lập nên triều Nguyễn. Gia Long cải tổ đất nước. cắt đặt tổng trấn các vùng, cải tiến nền hành chánh trung trung và có những quan hệ hòa bình với Trung Quốc, Cambodia và Thái Lan.

Ông khoan dung cho những người đạo Thiên Chúa ở Việt Nam cho tới khi ông chết vào năm 1820. Người kế nghiệp ông theo đuổi một chính sách đảo ngược.

1017 - Chiến tranh Maratha cuối cùng ở Ấn Độ. Người Maratha từ vùng Deccan của Ấn Độ, là những người Ấn Độ chống đối lại ách thống trị trong nước của Moghul Hồi giáo. Khi thủ lãnh Maratha Shivajit (1627-1680) chết, hoàng đế Moghul là Aurangzeb chiếm thành Maratha ở Poona, nhưng không dẹp được hết quân đối địch. Quyền lực Maratha lớn mạnh đến độ vào những năm 1720 nó trở thành quyền lực chính ở Ấn Độ. Năm 1761, một thủ lãnh Afghan là Ahmad Shad Durrani (1747-1773) chiến thắng người Maratha trong một trận ở gần Delhi, để cho người Anh mở rộng vùng đất của họ. Những năm 1770, cuộc chiến tranh giữa Anh và Maratha chấm dứt bằng một cuộc sống thanh bình kéo dài 20 năm. Một cuộc chiến thứ hai nổ ra vào năm 1830 khi một trong những thủ lãnh Maratha tấn công người Anh ở Poona. Người Anh trả thù và đánh thắng luôn cả những thủ lãnh Maratha kình địch khác. Khoảng 1819, người Anh cai trị Ấn Độ xa mãi tới tận sông Indus.

 1819 - Stamford Raffles thành lập Singapore. Singapore, một hòn đảo ban đầu do người Indonesia chiếm cứ vào cuối thế kỷ 11. Sau này các thương nhân Trung Quốc và Thái Lan thiết lập những trạm thương mại tại đó. Vào thế kỷ 16, cảng Malacca mới được thành lập trên đảo Malay, đã thu hút hầu hết mọi sự buôn bán ở địa phương. Cuối cùng Malacca trở thành điểm rất phồn thịnh của công ty Đông Ấn và Hà Lan cho tới năm 1795 thì nó bị Anh chiếm lấy khi Hà Lan bị quân đội Pháp chinh phục. Vào đầu những năm 1800, khi nước Anh mở rộng các quyền lợi của mình tại vùng Đông Nam châu Á, một tổng trấn người Anh trẻ tuổi, Stamford Raffles, được chỉ định quyền Tổng thống đảo Java. Tại đó ông đưa ra chính sách cải cách ruộng đất và bãi bỏ chế độ nô lệ. Sau khi trả lại  Java cho người Hà Lan năm 1815, Raffles hăng hái thành lập một cảng mới lôi cuốn các thương nhân Trung Quốc và thương nhân toàn thế giới. Năm 1819 ông dàn xếp với vị thủ lãnh Hồi giáo Johore ở Malay để Singapore được chính thức nhường cho nước Anh.

1839 - Chiến tranh thuốc phiện lần đầu tiên ở Trung Quốc. Mặc dầu chính quyền Trung Quốc suy yếu, họ vẫn hạn chế buôn bán với người châu Âu, giới hạn họ trong các cảng như Quảng Đông và Thượng Hải. Vào khoảng năm 1800 ngày càng có nhiều người Trung Quốc hút loại thuốc gây nghiện. Người Anh cung cấp thuốc được trồng bên Ấn Độ và người Trung Quốc trồng bằng bạc hà và lụa. Chính quyền Trung Quốc hoảng sợ trước việc dân chúng dùng thuốc phiện. Năm 1839 chính phủ Trung Quốc phái Lâm Tắc Từ tới Quảng Đông. Ông này đốt khoảng 20.000 hộp đựng thuốc phiện và cấm chỉ việc thương mại của Anh. Sự kiện đưa tới chiến tranh giữa Trung Quốc và Anh.

1800 - 1850 - CHÂU ÂU

15 năm đầu của thế kỷ bị chế ngự bởi các chính sách quân sự của Napoléon I, hoàng đế Pháp. Cuộc cách mạng kỹ nghệ bắt đầu ở Anh vào giữa thế kỷ 18 tràn qua châu Âu đem lại sự sung túc cho một số ít người làm chủ các xí nghiệp và hầm mỏ, và sự nhọc nhằn cho nhiều công nhân phải làm việc vất vả ở đó. Sau khi Napoléon thất trận các thủ lãnh châu Âu cố gắng khôi phục lại trật tự bằng cách bỏ qua luôn các quyền hạn mà họ đã phải vất vả lắm mới chiếm được. Điều này đưa tới sự kiện kêu gọi phải canh tân cả về mặt chính trị và xã hội và phải làm cho ý tưởng đó được quán triệt ở khắp châu Âu.

1804 - Napoléon tự đăng quang làm hoàng đế. Năm 1799, vị tướng gốc đảo Corse đầy tham vọng trong đạo quân của Pháp ở Ai Cập, Napoléon Bonaparte, trở về Pháp. Ông ta lật đổ Viện chấp chính tức ủy ban cai trị Pháp. Tổng tài chế được thiết lập. Trong vòng hai năm ông là ''người thứ nhất'' hay quyền lực thứ nhất trong 3 vị tổng tài rồi trở thành vị tồng tài suốt đời. Năm 1804 Napoléon tự tuyên bố là hoàng đế của người Pháp. Từ 1804 tới 1812 quân đội của ông đi khắp châu Âu từ Bồ Đào Nha ở mạn Tây tới tận Nga ở biên giới mạn Đông. Một số quyền lực sụp đổ, số khác chống lại. Nỗ lực cai trị Tây Ban Nha của ông bị thất bại. Điểm cao của sự thành công của ông là chiến thắng người Áo ở Wagram, năm 1809. Sau đó ông cưới Marie-Louise con gái vua Áo.

1812 - Rút lui khỏi Moscow. Năm 1806 thất bại trong việc chiếm ưu thế trên nước Anh, Napoléon I đưa ra chính sách phong toả kinh tế đối với các hòn đảo thuộc Anh, cấm các quốc gia khác không được nhập khẩu hàng hoá của Anh. ''Hệ thống lục địa này'' có hiệu quả nhưng lại làm mất lòng và nhiều khi nó đem đến sự khổ sở cho các nước châu Âu đang lệ thuộc vào sự buôn bán này. Khi Nga không theo đường lối này, Napoléon mở cuộc xâm lăng với một đạo quân gồm 675.000 người (Đại quân). Ông tiến tới Moscow hy vọng chiếm được thành phố giàu có này. Nhưng thay vào đó ông tìm thấy một Moscow ''đồng không nhà trống''. Và mùa đông nước Nga đến sớm và gây thiệt hại lớn cho quân Pháp buộc Napoleon phải rút lui.

1815 - Trận Waterloo. Cuộc triệt thoái tai hại của quân đội Pháp từ Nga về khơi mào cho một cuộc tổng nổi dậy ở khắp châu Âu để chống lại quyền lực Pháp. Công tước Anh, Wellington, đuổi quân Pháp ra khỏi Tây Ban Nha và vào năm 1814 đã vượt biển qua Pháp. Tại Leipzig năm 1813 Napoléon bị những lực lượng của Áo, Phổ và Nga đánh bại. Năm 1814 ông thoái vị và bị đày đi đảo Elbe. Một người anh em của Louis XVI được đưa lên làm vua Pháp nhưng trở nên thất nhân tâm sau 3 tháng, đến nỗi Napoléon lại có thể rời Elbe tập hợp một đạo quân và đuổi ông ra khỏi Paris. Napoléon lại cai trị được khoảng 100 ngày. Nhưng ở gần Waterloo tại Bỉ, ngày 18 tháng 6 năm 1815, một lực lượng Anh dưới sự chỉ huy của Wellington và một đạo quân Phổ do Thống chế Plucher chỉ huy, đã đánh bại Napoléon. Napoléon thoái vị một lần nữa và bị đày đi tới một hòn đảo ở mạn Nam Đại Tây Dương, St Helena. Tại đây ông chết năm 1821.

Cuộc cách mạng công nghiệp. Vào đầu thế kỷ 19 cuộc Cách mạng công nghiệp làm thay đổi cuộc sống ở Anh và sau đó của cả thế giới. Nó có nguồn gốc từ thế kỷ 16 và 17 khi các thương gia giàu có tổ chức đông đảo công nhân sản xuất đồ dệt tại nhà. Vào giữa thế kỷ 18 máy móc được phát minh để sản xuất hàng loạt các hàng dệt. Các thương gia đầu tư vốn liếng vào xí nghiệp để đưa máy móc mới và lực lượng lao động vào làm việc trong đó. Mỏ sắt và mỏ than được khai thác để các nguyên vật liệu sản xuất máy và làm cho máy chạy. Dần dần nhiều công nghiệp được cơ khí hoá. Hàng hoá được sản xuất hàng loạt, được bán với giá thấp ở nội địa cũng như ở nước ngoài. Các gia đình chuyển về ở quanh những đô thị để tìm việc làm. Các đô thị cứ lớn dần quanh các hầm mỏ và các xí nghiệp. Người ta sống trong những căn nhà nhỏ chen chúc đàn ông, đàn bà và trẻ con, làm việc 12 giờ hay hơn nữa trong một ngày, 6 ngày trong một tuần. Công nhân thì nghèo trong khi các chủ xí nghiệp giàu có thêm. Nhu cầu chuyển hàng hoá và hành khách ngày càng nhiều đưa tới cuộc cách mạng về phương tiện vận chuyển. Hệ thống hoả xa được phát triển.

Chủ nghĩa cộng sản. Học thuyết triết học, xã hội và chính trị do Karl Marx và Frederic Engels xây dựng, trên cơ sở nghiên cứu sự vận động của lịch sử loài người nói chung và sự vận động tư bản nói riêng. Marx và Engels đã chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là kẻ đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản và là người sáng tạo ra xã hội mới: xã hội cộng sản, trong đó chế độ tư hữu bị xoá bỏ, chế độ công hữu được xác lập, không có những đối kháng giai cấp và chế độ người bóc lột người, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do cho tất cả mọi người. Karl Marx đã trình bày Bản Tuyên Ngôn Cộng Sản vào năm 1848.

1848 - Năm của các cuộc Cách Mạng. Suốt năm 1848 phong trào cách mạng nổ ra trên nhiều nước châu Âu, xuất phát từ những khó khăn chung như sản xuất đình trệ, nạn đói, thất nghiệp lan tràn và sự bất mãn ngày càng tăng cùng với những sự suy thoái về thương mại. Và những xung đột của các phong trào đòi cải tổ hiến pháp và xã hội, được tầng lớp trí thức cổ vũ, đối đầu với phe bảo thủ trong đó có các vị lãnh đạo quốc gia như Metternich ở Áo và Guizot ở Pháp. Vào giai đoạn này, điển hình là các cuộc cách mạng ở Pháp, Áo, Hungary, nhiều bang của Đức và Ý, Ireland, Thụy Sĩ, Đan Mạch. Năm 1849, tất cả các cuộc cách mạng đều bị dập tắt, nhưng các chính phủ buộc phải lắng nghe tiếng nói của dân chúng và nhận ra vai trò trọng yếu của các phong trào dân tộc.

Tháng Hai: Vua Louis Philippe của Pháp thoái vị; nền Cộng Hoà Thứ Hai được thiết lập.

Tháng Hai - Tháng Ba : Sau khi cuộc nổi dậy ở Sicily và Naples (Nam Ý) một vài bang ý chấp nhận hiến pháp tự do.

Tháng Ba: Cách mạng ở Hungary do Lajos Kossuth lãnh đạo, đòi độc lập cho Áo

Tháng Ba: Cuộc nổi dậy ở Vienna; quan chưởng ấn Áo Metternich thoái vị và chạy trốn qua Luân Đôn.

Tháng Tư: Cuộc xuống đường vĩ đại ở Luân Đôn do những người phản đối hiến pháp đòi canh tân chính trị; cuộc biểu tình được giải tán một cách êm thấm.

Tháng Bảy: Một cuộc nổi dậy của phong trào Ireland Non Trẻ ở Tipperary bị trấn áp.

1800-1850 - CHÂU MỸ

Được khích lệ bởi những người Mỹ và  cuộc cách mạng Pháp, các thuộc địa Tây Ban Nha bắt đầu chiến đấu để giành độc lập, đặc biệt sau khi vua Ferdinand VIII được Joseph Bonaparte, em Napoléon, thay thế năm 1808... Dưới sự lãnh đạo của Simon Bolivar và những người yêu nước khác, độc lập được hoàn tất trên khắp vùng Trung và Nam Mỹ vào khoảng 1830. Brazil, một thuộc địa của Bồ Đào Nha, giành được độc lập năm 1825. Ở Bắc Mỹ, Hiệp Chủng Quốc và Anh giao tranh (1812-1815) vì nhiều vấn đề. Không bên nào thắng rõ ràng nhưng cuộc chiến củng cố thêm nền độc lập Mỹ. Canada thuộc Anh, trong cuộc chiến tranh năm 1812 đã chống lại cuộc xâm lăng của Hiệp Chủng Quốc, giờ đây được tổ chức lại thành một lãnh địa tự trị duy nhất năm 1840, theo sau cuộc nổi dậy của những người Canada nói tiếng Pháp những năm 1837 -1838.

Những cuộc chiến tranh giành độc lập

1808, Bắt đầu những phong trào giành độc lập ở Nam Mỹ.

1816. Argentina giành được độc lập từ tay người Tây Ban Nha.

1817. San Martin và Bernardo O'Higgins thắng trận Chacabuca; Chile trở thành độc lập năm 1818.

1821. Simon Bolivar thắng trận Carabobo; nền độc lập của Venezuela được đảm bảo.

1821. San Martin tuyên bố Peru độc lập.

1822. Dom Pedro, con trai của John VIBồ Đào Nha, tuyên bố Brazil độc lập.

1825. Bolivar thành lập một nước Cộng hoà mới, Bolivia, mang tên của ông.

1830. Simon Bolivar chết.

1836. Alamo bị bao vây.

Sau khi giành được độc lập năm 1821, Mehico kêu gọi người Mỹ tới định cư trên những vùng đất dân cư thưa thớt mạn Bắc Mehico: Texas. Khoảng 25.000 người Mỹ chuyển đến Texas trong vòng 15 năm kế tiếp. Chẳng bao lâu họ xung đột với chính quyền Mehico, đặc biệt về vấn đề nô lệ. Năm 1835 người Texas nổi dậy. Sau này Texas trở thành một cộng hoà độc lập với Houston làm Tổng thống. Texas muốn được sáp nhập vào Hiệp Chủng Quốc, và điều này được rất nhiều người Mỹ hậu thuẫn. Không lâu sau khi Texas được sáp nhập năm 1845, Hiệp Chủng Quốc và Mehico giao tranh với nhau. Cuộc chiến đẫm máu kết thúc với sự bại trận của Mehico năm 1848.

1849 - Cuộc săn vàng ở California - Nhiều người Mỹ muốn lấy được tỉnh California của Mehico. Năm 1846, người Mỹ định cư ở California tuyên bố độc lập. Tháng 2 năm 1848 Mehico giao nhượng vùng đất mạn Bắc của mình gồm cả California và Tân Mehico cho Mỹ theo hiệp ước Guadelupe Hidalgo, chấm dứt cuộc chiến tranh Mỹ - Mehico. Vàng được khám phá ra mấy ngày trước khi hiệp ước được ký kết và vào năm 1849 hàng ngàn người đi tìm vận may tới đó. ''Cuộc săn vàng'' làm phát sinh ra một nhu cầu cần thiết về chính quyền dân chúng, vì thế California được chấp nhận vào Hoa Kỳ như Bang thứ 31, năm 1850.

1800 - 1850 - CHÂU ĐẠI DƯƠNG

Thế kỷ 19 chứng kiến một sự gia tăng không ngừng về sự can thiệp vào các vương quốc đảo của các thế lực châu Âu: Anh, Đức, Pháp, và tất cả đều sáp nhập hay đặt sự bảo hộ trên một vài hòn đảo. Hawaii hợp nhất dưới một triều đại mới. Tân Tây Lan từ nhiều thế kỷ là nơi cư ngụ của người Maori bắt đầu bị những người thuộc địa Anh chiếm làm nơi định cư và sau này trở lại với những thoả hiệp tôn trọng dân Maori.

1810 - Kamehameha I thống nhất các đảo Hawaii. Trải qua nhiều thế kỷ các hòn đảo Hawaii bị nhiều thủ lãnh cai trị riêng lẻ, Kamehameha I, con trai một thủ lãnh, sinh ra trên đảo Hawaii. Khi còn là một thanh niên, vào những năm 1770, ông ta được người bác, vua Klaniopulu, cử đi thương lượng với thuyền trưởng James Cook. Kamehameha nhìn thấy những điểm lợi khi liên kết các đảo lại dưới sự cai trị của ông nên vào đầu những năm 1790 ông xâm chiếm Maui, một trong những hòn đảo lớn nhất. Khoảng năm 1795 ông chiếm hầu hết các đảo. Vẫn còn sự chống đối ít ỏi của các đảo còn lại, đặc biệt là hòn đảo Kauai mà cuối cùng ông cũng chiến thắng vào năm 1810. Ông trở thành người cai trị tất cả các đảo Hawaii. Từ đó Kamehameha theo đuổi một chính sách hoà bình, thành lập một hội đồng các thủ lãnh địa phương. Ông thiết lập độc quyền thương mại của nhà nước về gỗ trầm hương mà các nước khác có nhu cầu rất lớn. Ông cũng khích lệ các nước khác tới thăm đảo và hậu thuẫn việc phát triển kỹ nghệ địa phương. Ông chết năm 1819- 1840.

 1840 - Hiệp ước Waitangi. Vào những năm 1790, thương nhân châu Âu tới Tân Tây Lan. Người Maori sống ở đây cả hàng thế kỷ không để ý gì đến họ, nhưng vào khoảng 1800 bắt đầu buôn bán với họ. Năm 1840 những người thuộc địa Anh đầu tiên định cư ở Tân Tây Lan và thành lập thành phố Wellington trên vùng đất mua lại của người Maori. Nước Anh tuyên bố chủ quyền trên Tân Tây Lan và phái 1 toàn quyền đến, William Hobson. Hobsson thoả thuận được với các lãnh tụ Maori, bảo đảm quyền sở hữu đất của họ và trao cho họ quyền công dân Anh. Điều này - Hiệp ước Waitangi - không được đáp ứng đầy đủ. Sự vi phạm quyền lợi của người Maori dẫn tới một cuộc chiến tranh lớn (1843-1848).

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 BKTT Phổ thông   Toàn cảnh thế giới   Lịch sử thế giới
1700 – 1750: thời đại của phát triển khoa học
1750 – 1800: thời đại cách mạng
1800 - 1850: nền độc lập và kỹ nghệ
1850-1900: sự trỗi dậy của tinh thần quốc gia
1900 – 1919: thế giới bước vào chiến tranh
1919 - 1946: hòa bình và chiến tranh
1946 những năm 1990: thế giới
1946 - những năm 1990: châu Âu
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google