Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
Tiêu điểm
Điện hạt nhân trên thế giới...
Một sự kiện hiếm có: những...
Những hậu quả của nền văn minh...
Những kính viễn vọng hiện đại
Những biến đổi của bề mặt Trái đất
Có sự sống ngoài trái đất hay...
Vạch 21 centimét của nguyên tử...
Nghiên cứu thám hiểm các hành tinh
Sự tìm kiếm chất đen - thấu...
Du hành trong dải ngân hà
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Khám phá & Phát minh   Các công trình kiến trúc nổi tiếng trong lịch sử thế giới cổ Trung đại   Kiến trúc tiêu biểu cho nền văn minh Trung Hoa


Vạn lý Trường thành

Vạn lý Trường thành

Vạn lí trường thành là một trong những kì công kiến trúc của con người, nó đi qua những vùng sa mạc mênh mông, những dãy núi cao và những đồng cỏ bao la từ đông sang tây ở phần phía bắc của Trung Hoa. Đây là một cấu trúc phòng thủ khổng lồ được xây dựng và tái thiết trong lịch sử hơn 2.000 năm, qua nhiều triều đại khác nhau của Trung Hoa. Nếu cộng tất cả chiều dài của các phần trường thành xây dựng dưới các triều đại ấy lại (một số trong đó hiện không còn tồn tại nữa) sẽ được tổng số chiều dài khoảng 54.000km, và nếu xếp chúng lại thành một bức tường dày 1m, cao 5m, nó có thể chạy vòng quanh Trái Đất đến hơn 12 lần.

Con số đáng kinh ngạc ấy khiến người ta tự hỏi không biết Vạn lí trường thành đã được xây dựng như thế nào? (H.7)

Hình 7: Một đoạn Trường thành ở Mộ Điền Cốc

Lịch sử xây dựng

Công cuộc xây dựng Vạn lí trường thành bắt đầu vào thế kỉ thứ VII trước Công nguyên và kéo dài đến đầu thế kỉ XIX khi Trung Hoa đặt dưới sự cai trị của nhà Thanh. Những người tham gia xây dựng là những người nắm quyền cai trị của trên 20 nước chư hầu và 5 triều đại. Do đó Vạn lí trường thành có lịch sử khoảng từ 2.500 đến 2.600 năm tương đương với thời kì phong kiến của Trung Hoa.

Vào thế kỉ thứ VII trước công nguyên, khi chế độ Đông Chu suy tàn (giai đoạn Đông Chu tương ứng với hai thời kì: Xuân Thu (770-475 T.CN) và Chiến Quốc (475 - 221 T.CN), trên lãnh thổ của Trung Hoa lúc ấy có rất nhiều nước nhỏ, phần lớn những quốc gia này hình thành do chính sách phân phong của thời Tây Chu (1066 - 770 T.CN). Trước kia thà Tây Chu phân phong chư hầu là để các nước này làm phên giậu bảo vệ nhà Chu, nhưng nay thế lực nhà Chu suy yếu, những nước này không những không tuân theo mệnh lệnh của Thiên tử (chỉ vua nhà Chu) mả còn xâm phạm lãnh địa nhà Chu, hơn nữa họ còn muốn ''khống chế Thiên tử để chỉ huy các nước chư hầu''. Các cuộc chiến tranh giữa các chư hầu ngày càng gia tăng về quy mô và cường độ. Cũng trong thời kì này đã diễn ra sự thay đổi về chiến thuật quân sự, đó là binh lính trên chiến xa dần dần được thay bằng bộ binh, lấy cung tên, giáo mác, gậy gộc làm vũ khí. Vì có sự gia tăng của bộ binh nên các chướng ngại thiên nhiên (như núi rừng, đầm lầy), và nhân tạo (như hào, lũy) không đủ sức để phòng vệ, và thế là người ta nghĩ đến việc xây dựng những bức tường thành kiên cố để ngăn chặn quân xâm lăng. Căn cứ vào các tài liệu lịch sử và di tích của các trường thành được phát hiện đến nay thì có lẽ trường thành của nhà Tề được dựng lên đầu tiên ở tinh Sơn Đông ngày nay, vào thế kỉ thứ V trước Công nguyên. Nó dài hơn 500km, bắt đầu từ một vùng ngoại ô của thành phố Tế Nam, kết thúc ở bờ biển Hoàng Đảo, một quận thuộc thành phố Thanh Đảo. Các trường thành tương tự được các chư hầu khác thuộc trung thổ xây dựng như Ngụy, Triệu, Yên, Tần... Trường thành nước Yên bắt đầu ở Tạo Dương; trường thành nước Triệu từ Cao Khuyết (nay là khu tự trị Nội Mông) kéo dài dần phía đông huyện Uý, (Hà Bắc); trường thành nước Tần từ Lâm Thao (nay là Cam Túc) qua Cố Nguyên - đến tận Hoàng Hà. Trong đó, có tầm quan trọng chiến lược là trường thành của các nước Tần, Triệu và Yên, xây dựng dọc theo biên giới phía bắc để chặn sự xâm lấn về phương nam của các bộ tộc như Hung Nô, Đông Hồ, Sơn Nhung…Theo thời gian, những công trình phòng thủ này dần trở thành phần thuộc Vạn lí trường thành mà chúng ta thấy ngày nay.

Chính Thái Tổ Hoàng đế của nhà Tần là người đã kết thúc 5 thế kỉ chiến tranh sáp nhập bằng cách chinh phục tất cả các chư hầu và thành lập đế quốc Trung Hoa thống nhất đầu tiên vào năm 221 trước Công nguyên. Đè bẹp sự kháng cự của họ, quân đội của ông đã chọc thủng các tường thành.

Nhà Tần, triều đại phong kiến đầu tiên có quyền lực trên cả nước đã thống nhất chữ viết của Trung Hoa, đơn vị tiền tệ cân đong và đo lường, lập ra một tổng thể các thể chế văn hóa, kinh tế, chính tần, chi phối cuộc sống trong một xã hội phong kiến. Với một quân đội hùng mạnh, nhà Tần trấn giữ vùng trung thổ phì nhiêu, và phải đương đầu với các thế lực quân sự của vùng đất cao nguyên phương bắc.

Qua nhiều thế kỉ có nhiều nhóm sắc tộc hoạt động ở các vùng phía bắc Trung Hoa, một số là dân bản địa, số khác di dần từ các nơi xa xôi đến. Theo thời gian, sự suy tàn của nhóm này cũng là sự bắt đầu nổi lên của các nhóm khác, các nhóm dân du mục xuất hiện và biến mất như các đám mây bồng bềnh. Những nhóm sắc tộc này xuất hiện trên sân khấu lịch sử khi họ vẫn còn ở trong chế độ nô lệ hoặc mới ngấp nghé ngưỡng cửa của xã hội phong kiến. Nguồn tài nguyên giàu có của vùng trung thổ  và cuộc sống văn hóa vật chất phát triển ở đó đã hấp dẫn họ, các bộ tộc này thường có khuynh hướng muốn xâm nhập vào vùng trung thổ phì nhiêu và các triều đại ở trung thổ cũng thường kết giao với các gia tộc ở phương bắc bằng những mối quan hệ hôn nhân và trao đổi kinh tế. Song sự bình ổn dọc theo biên giới cũng rất mong manh vì bất cứ lúc nào kị binh của các nhóm sắc tộc cũng có thể tràn vào trung thổ đột kích và cướp đoạt.

Sau khi Thái Tổ Hoàng đế nhà Tần khẳng định quyền thống trị khắp trung thổ, ông đã phái Hoàng thái tử Phù Tô và tướng Mông Điềm xây Trường thành dọc theo biên giới phía bắc. Tổng cộng 300.000 quân và hàng trăm ngàn dân phu đã được huy động, công trình được hoàn tất trong 9 năm. Những người xây dựng đã nối các trường thành được xây dựng trước đó và mở rộng ra đến Liêu Đông (thuộc tỉnh Liêu Ninh ngày nay) với chiều dài là 5.000km. Đây là Vạn lí trường thành đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa với một cấu trúc sừng sững thực sự là để phản công hơn là chỉ để phòng thủ.

Nối tiếp nhà Tần là nhà Tây Hán (206 T.CN - 8), Trường thành được tái thiết với quy mô rất lớn. Dưới thời Hán Võ Đế (140 - 87 T.CN), nó được phát triển xa hơn về phía tây, vượt qua một phần sa mạc Gobi mênh mông, mở rộng trên những vùng đất đáng sợ tạo nên do gió xói mòn với vô số đầm lầy kế tiếp nhau, rồi kết thúc ở khu vực phụ cận hồ Lop Nor (thuộc Tân Cương ngày nay). Nhiều đoạn Trường thành được xây dựng ở các khu vực khác nhau. Trường thành xa nhất về phía bắc đi ngang qua nước Mông Cổ ngày nay với tổng chiều dài trên 10.000km. Vạn lí trường thành đời Tây Hán có lẽ là dài nhất.

Sau nhà Hán, Vạn lí trường thành được các triều đại sắc tộc xây dựng, trong đó Trường thành do nhà Kim (1115 - 1234) xây nằm ở vùng trung và đông của cao nguyên Mông Cổ, Trường thành tiếp tục vươn tới vùng phía bắc của tỉnh Hà Bắc; với tổng chiều dài là hơn 5.000 km. Nó là tổng thể các tháp canh phong hỏa dài, đồn lũy và có hào bao quanh như một công trình phòng thủ chính, nó được mệnh danh là ''hào biên giới của nhà Kim''.

Triều đại thứ tư xây dựng Vạn lí trường thành là nhà Minh (1368 - 1644). Lúc này đầu phía đông của Trường thành ở gần sông áp Lục thuộc tỉnh Liêu Ninh và đầu phía tây tại ải Gia Dục thuộc tỉnh Cam Túc. Thành nhà Minh có những cấu trúc ở nhiều phần gọi là thành nội và thành ngoại. Tổng chiều dài của Trường thành này là 7.500km. Nhà Minh là triều đại cuối cùng nâng cấp Vạn lí trường thành với một quy mô lớn và đạt được tầm cao nhất của sự hoàn thiện cả về kỹ thuật phòng thủ và nghệ thuật kiến trúc. Các phần hiện nay được khách du lịch thường lãm như Bát Đạt Lĩnh, Mộ Điền Cốc, Kim Sơn Lĩnh, Sơn Hải Quan và Gia Dục Quan là những phần tốt nhất được xây dựng trong thời kì này.

Vạn lí trường thành đã được xây dựng như thế nào?

Vạn lí trường thành là một hệ thống phòng thủ quân sự khổng lồ. Thay vì chỉ là những dãy tường dài đơn độc, nó có không dưới 1.000 đường đèo sừng sững, gần 10.000 phong hỏa  đài để phát tín hiệu quân sự và vô số các tòa lâu đài được củng cố, rất nhiều hào sâu và nhỏ,  nhiều đường rộng cho lưu thông. Cấu trúc liên tục của các tường cao được bổ sung thêm nhờ các điếm thư truyền tin, trạm ngựa, nhà kho, kho vũ khí và trang trại có người làm việc, đó là những đơn vị quân đội hoặc dân sự, tất cả đều bảo đảm hỗ trợ hậu cần cho hệ thống phòng thủ. Các thành phần được phân bổ sao cho các đường đèo, quan ải đóng vai trò như các cứ điểm, còn các phong hỏa đài như các tiền đồn, các lâu đài bao quát chi viện cho lính phòng thủ trụ ở trường thành. Điều này có nghĩa là việc canh phòng suốt chiều dài của Trường thành là nhờ các đồn lũy chính, và dĩ nhiên hệ thống này sẽ không thể tồn tại lâu nếu không có mạng lưới cung ứng hậu cần tinh vi phức tạp.

Các phần khác nhau của Vạn lí trường thành có cấu trúc thay đổi theo địa hình cũng như thời kì xây dựng tương ứng của chúng. Cần biết rằng nhu cầu xây dựng Vạn lí trường thành xuất phát từ tâm lí phòng thủ có gốc rễ sâu xa, nếu cứ hoạt động theo biên chế đội ngũ, quân đội trung thổ sẽ khó lòng đối phó được với tính cơ động của kị binh từ các đồng cỏ phương bắc có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Các nhà chiến lược của các triều đại liên tiếp phát triển quan niệm xây dựng tuyến phòng thủ trên vùng cao (H.8).

Hình 8: Trường thành ở Bát Đạt Lĩnh

 Nếu xem xét cấu trúc xây dựng của Vạn lí trường thành, ta thấy nổi bật lên việc vận dụng một cách sáng tạo các trở ngại thiên nhiên (H.9).

Hình 9: Trường thành ở Tư Mã Đài

 Nhiều quan ải, tường thành đã được dựng lên ở những địa điểm mà hầu như quân địch không thể đến được; thậm chí trên những nơi núi dốc nguy hiểm hay đầm lầy sâu thẳm người ta chỉ cần đặt một số tối thiểu phong hỏa đài và tháp quan sát đọc theo đỉnh đồi và đầm lầy là đủ. Điều này cũng giải thích vì sao có nhiều đoạn Trường thành đã được tìm thấy ở những nơi hiểm trở không ai dám đặt chân đến. Những người thiết kế đã cố ý giữ lại bên trong Trường thành những khu vực phì nhiêu, có nguồn nước dồi dào và chừa lại môi trường tệ hại nhất ở bên ngoài cho những kẻ xâm lăng. Chính cấu trúc hình thể đa đảng ấy khiến cho từ trên cao nhìn xuống, Trường thành giống như một con rồng khổng lồ đang uốn mình, ngoằn ngoèo, xuyên qua những vùng đồi núi, thung lũng, lao xuống các vực sâu, vượt qua những con sông chảy xiết để vươn tới những đỉnh cao chót vót, rồi như thể mệt nhoài vì phải vượt qua những đoạn đường dài hiểm trở, con rồng trườn mình ra biển nhúng đầu xuống uống nước biển cho đã cơn khát. Đoạn Trường thành lấn ra biển là giới hạn phía đông của Vạn lí trường thành thuộc Sơn Hải Quan, phần chìm trong biển được xây bằng những tảng đá lớn với những hình dáng tự nhiên, một số được đẽo gọt công phu. Đoạn thành này là do tướng nhà Minh là Thích Kế Quang xây dựng để phòng thủ bờ biển (H.10).

Hình 10: Nơi Trường thành lấn ra biển

Hệ thống tháp canh và phong hỏa đài ở Vạn lí trường thành phát huy tác dụng rất hữu hiệu. Ở đây có những đơn vị phục vụ chiến đấu rất cơ động. Các tháp canh ở Vạn lí trường thành thường có hình vuông, hình chữ nhật và được xây ở các góc Trường thành. Mỗi tháp canh thường có hai tầng: tầng thấp dùng làm phòng ngủ cho các chiến sĩ bảo vệ, làm kho chứa lương thực, cỏ khô và vũ khí; tầng cao hơn xây bằng những bức tường có lỗ châu mai. Tường có lỗ châu mai là kiến trúc phổ biến của các bức tường ở Vạn lí trường thành; dưới các lỗ châu mai còn có khe hở để các chiến sĩ quan sát và bắn cung. Thường thì mỗi tháp canh có bậc thang để dẫn lên tầng 2, nhưng cũng có một số tháp không dùng thang, thay vào đó có một lỗ hổng ở nóc tầng 1 để các chiến sĩ dùng dây thừng hoặc thang dây leo lên. Khi quân thù tấn công vào tầng 1, các chiến sĩ bảo vệ có thể cầm chân họ ở bên dưới cho tới khi có quân tiếp viện tới (H.11).

Hình 11: Tường có lỗ châu mai

Thời Minh, Hoàng đế đã bố trí chín đạo quân đóng đọc theo Trường thành, tổng số binh sĩ của chín đạo quân lên đến trên 1 triệu người. Lúc đầu, binh sĩ làm việc theo chế độ luân phiên, song sự luân phiên như vậy quá tốn kém, nên triều đình quyết định đặt những đơn vị quân đội chính quy tại các điểm then chốt, còn những khu vực khác của Trường thành thì đặt dưới sự giám sát của lính tháp canh. Những người lính tháp canh được phép đưa gia đình đến sống trong tháp, nhưng họ phải tuân theo chế độ canh phòng - canh tác. Triều đình cho phép mỗi gia đình khai khẩn một phần đất và hưởng một phần kết quả thu hoạch, phần còn lại phải nộp lên trên vào cuối năm. Công việc của lính tháp canh là công việc có tính cha truyền con nối, họ sống cả đời trong các tháp canh.

Phong hỏa đài là một phương tiện quan trọng để chuyển giao những thông báo, quân sự từ Vạn lí trường thành, chúng được xây rất kiên cố bằng đá, gạch, đất sét... Mỗi phong hỏa đài có chiều cao từ 3 đến 15m, cái nọ cách cái kia những 500m. Người ta dùng ròng rọc bằng gỗ để đưa cỏ khô, phân chó sói, lưu huỳnh lên đỉnh tháp. Khi có quân giặc xuất hiện, những chiến sĩ sẽ phát tín hiệu báo động. Tín hiệu có thể là cờ bằng vải màu, đuốc, khói, lửa hoặc tiếng trống. Tương truyền chất đất ở phong hỏa đài trộn phân chó sói, khi đất ban ngày khói tỏa lên rất cao, đen kịt, ban đêm sáng chói, từ xa cũng trông thấy được. Nhờ những vọng gác này, người ta có thể truyền tin nhanh trong lãnh thổ của Hoàng đế trong vòng 24 giờ. Những tín hiệu này đến thời Minh được thay thế bằng súng đại bác (H.15).

Hình 14: Bên trong một tháp canh

Các cửa ải của Vạn lí trường thành thường được xây dựng ở những nơi hiểm yếu với nhiều công sự, đường hào chiến đấu. Chạy dọc theo thung lũng dài 18,5km, cách tây bắc Bắc Kinh khoảng 50km có 4 cửa ải là: Nam Khấu, Cư Dụng Quan, Thượng Quan và Bát Đạt Lĩnh. Trước đây chúng được xem như những ải chiến lược quan trọng để phòng thủ Thủ đô. Trong đó, Cư Dụng Quan là một trong những ải nổi tiếng nhất của Vạn lí trường thành. Ải này trụ trên một đường đèo hiểm trở nằm giữa những đỉnh núi, đó là con đường dẫn đến thủ đô Bắc Kinh từ phía bắc. Tại đây đã diễn ra nhiều trận đánh quyết định số phận của đất nước Trung Hoa. Năm 1122, quân đội nhà Kim (1115 - 1234) đã chiếm Cư Dụng Quan trước khi đến đến Bắc Kinh lật đổ nhà Liêu (907 - 1125); quân đội nhà Minh cũng chiếm ải này trước khi vào Bắc Kinh lật đổ nhà Nguyên (1026 - 1368) và quân khởi nghĩa nông dân do Lí Tự Thành lãnh đạo, năm 1644, cũng đã làm như vậy để tiến vào lật đổ nhà Minh.

Hình 15: Một thiết pháo thời Minh đặt ở lối vào ải Bát Đạt Lĩnh.

Đóng vai trò như một tiền đồn của Cư Dụng Quan, Bát Đạt Lĩnh đã từng được xem là quan trọng hơn cả Cư Dụng Quan trong việc phòng thủ Bắc Kinh. Bát ĐẠT Lĩnh tiếng Trung Hoa là: sự giao thông thuận lợi, có lẽ vì từ đây tỏa ra nhiều con đường tới Diên Khánh, Tuyên Hóa, Trương Gia Khẩu, Đại Đồng Đường Sơn, Thừa Đức... Trường thành ở Bát Dạt Lĩnh dốc đứng, trông giống như một cái thang với một đầu dẫn đến trời cao vời vợi còn đầu kia là vực sâu hun hút cả ngàn mét. Địa thế hiểm trở của nó cũng chính là ưu thế tuyệt vời trong chiến đấu, các nhà quân sự của trung thổ đã đánh giá: ''Chỉ cần một người trụ ở Bát Đạt Lĩnh cũng đủ sức chống chọi với cả vạn quân thù''. Trường thành ở đây được xây rất kiên cố, chiều cao Trường thành tùy từng nơi mà có thể đo được từ 5 đến 10m, mặt thành cũng rộng tương đương như vậy, hai bên còn có lan can và chính giữa là con đường bằng phẳng cho xe, ngựa đi lại. Đây là một trong những phần được bảo quản tốt nhất, nay là điểm đầu tiên của Vạn lí trường thành được mở ra cho du khách thưởng lãm.

Hình 16: Hào nước bao quanh Sơn Hải Quan.

Sơn Hải Quan thường được xem là giới hạn phía đông của Vạn lí trường thành. Nguyên do là khi tướng nhà Minh là Từ Đạt cho xây dựng lại Vạn lí trường thành vào năm 1381, ông đã đặt đầu phía đông của Trường thành ở Sơn Hải Quan. Cũng còn một đoạn thành khác ở bán đảo Liêu Đông được xây dựng muộn hơn, trong khoảng thời gian từ 1439 đến 1449, nhưng sau đó đã bị sụp đổ hoàn toàn trong thời nhà Thanh, trong khi đoạn thành ở Sơn Hải Quan thì vẫn còn nguyên vẹn.

Hình 17: Trên tháp ở cổng phía đông của Sơn Hải Quan

có bút tích của Tiêu Hiển: “Thiên hạ đệ nhất quan”.

Sơn Hải Quan nằm ở phía đông bắc thành phố Tần Hoàng Đảo thuộc tỉnh Hà Bắc, bao quanh nó là một hào nước sâu 8m, rộng 17m, “Sơn Hải Quan được xem là chiếc chìa khóa cửa ngõ dẫn tới Thủ đô và là ải quan trọng nhất của Vạn lí trường thành”[1]. Cổng phía đông của Sơn Hải Quan có một tháp hai tầng, trên tấm biển của lối vào có ghi 5 chừ Trung Hoa ''Thiên hạ đệ nhất quan'', đây là bút tích của Tiêu Hiển, một thí sinh đã đoạt giải trong kì thi của Hoàng đế.[2]

Hình 18: Đá Vọng phu -  nơi nàng Mạnh Khương đứng chờ chồng.

Sơn Hải Quan không chỉ nổi tiếng bởi tầm quan trọng về mặt quân sự mà còn là nơi có phong cảnh thiên nhiên trữ tình. Nơi đây còn lưu lại vết tích của một câu chuyện tình bi thương kể về nàng Mạnh Khương muôn dặm tìm chồng, khi đến nơi thì chồng nàng đã chết thảm vì lao động khổ sai ở Trường thành. Tiếng khóc đau thương của nàng đã làm cho một đoạn Trường thành sụp đổ. Cuối cùng nàng đã gieo mình xuống biển tự vẫn để mong được đoàn tụ với chồng ở ''thế giới bên kia''. Nhô lên trên mặt biển cách bờ Sơn Hải Quan chừng 500m hiện còn hai tảng đá, một lớn một nhỏ đứng cạnh nhau như hai vợ chồng nàng Mạnh mãi mãi không rời xa. Cách Sơn Hải Quan 6,5km về phía đông vẫn còn tảng đá ''Vọng phu'', tương truyền chính nơi đây, Mạnh Khương đã đứng chờ chồng trong nỗi tuyệt vọng khôn cùng.

Đầu phía tây của Vạn lí trường thành dẫn đến ải Gia Dục Quan. Năm 1372, trong chuyến đi kiểm tra tình hình phòng thủ, Đại tướng quân Bằng Thắng đã chọn vùng đất rộng rãi và bằng phẳng ở phía tây tỉnh Cam Túc để xây ải Gia Dục. Ải này luôn được củng cố trong suốt gần 300 năm cai trị của nhà Minh, nó được bảo quản rất tốt và hiện là ải rộng nhất của Vạn lí trường thành được du khách tán thưởng.

Vật liệu để xây Trường thành thường được khai thác tại chỗ. Trên các cao nguyên phía bắc Trung Hoa, người ta dùng đất hoàng thổ nén lại; ở những vùng địa hình phức tạp hơn thì trộn đất với đá, đá với cát hoặc đổ cát vào những khung được đan bằng sậy hoặc liễu - phần Trường thành ở gần hồ Lop Nor (Tân Cương) xây dựng theo cách này đã chịu đựng được mưa gió hơn 2.000 năm, hiện nơi đây vẫn còn một vài đoạn thành cao đến 3m.

Vạn lí trường thành chạy qua phần lớn núi non, sa mạc, vì thời ấy không có máy móc nên việc xây dựng rất khó khăn. Nhiều đoạn Trường thành ở Cư Dụng Quan và Bát Đạt Lĩnh được xây bằng những khối đá dài 3m, nặng hơn 1.000kg, người ta vận chuyển những vật liệu nặng như vậy bằng tay, lưng và vai trần, các phương tiện đơn giản như xe cút kít, đòn bẩy được dùng trên những vùng đất bằng hoặc vùng núi dốc thoai thoải, cũng có khi dùng dây cáp để chuyển các giỏ vật liệu qua các rãnh sâu hay các đoạn sông, khe núi có địa hình hiểm trở. Do làm bằng tay nên công việc tiến triển rất chậm chạp. Một bia đá được khai quật ở Bát Đạt Lĩnh đã ghi lại rằng: hàng ngàn binh sĩ và nông dân đã phải mất 6 tháng lao động cật lực để xây một đoạn thành dài 23m (H.21). Thời Minh, Bắc Kinh được chọn làm kinh đô và cũng là nơi xây lăng tẩm của các hoàng đế. Để bảo vệ Thủ đô và đề phòng sự xâm nhập trở lại của Mông Cổ, Minh Đế đã cho xây dựng lại Vạn lí trường thành dọc theo vùng núi Yến Sơn đến phía bắc Bắc Kinh. Những đoạn thành ở tỉnh Hà Bắc hầu hết được xây trên nền những phiến đá lớn và lát bằng gạch có phủ thêm lớp đất, đá vụn ở bên trong. Gạch xây tường thường được nung tại chỗ, đất sét làm gạch cũng được nhào thật kĩ trước khi gởi tới lò nung. Kiểm tra một vài viên gạch để xây tường thành ở Bát Đạt Lĩnh, người ta thấy rằng chúng chịu được một lực nén rất lớn (1.000kg/cm2) và chịu được lực cong đáng kể lại hút nước rất ít. So sánh với gạch hiện nay, chúng vượt xa cả về chất lượng lẫn độ bền, người ta gọi chúng một cách thán phục là ''gạch một vạn năm''. Trên mỗi viên gạch còn có khắc ngày, tháng và tên người đã làm ra nó, điều đó chứng tỏ những nhà xây dựng đã rất chú trọng tới chất lượng công trình (H.22).

Hình 21: Đoạn thành ở Bát Đạt Lĩnh dài 23cm phải xây trong 6 tháng

Hình 22: Gạch xây Trường thành đời Minh

Lịch sử ghi nhận rằng việc xây dựng Vạn lí trường thành là một quá trình không gián đoạn. Qua hơn 2.000 năm xây đựng và tải thiết, Vạn lí trường thành đạt tới chiều dài khoảng 54.000km. Để thực hiện một công trình khổng lồ như vậy, những người đứng đầu các triều đại đã có sự quan tâm chỉ đạo chặt chẽ và thống nhất. Việc tổ chức và quản lí công cuộc xây dựng dựa trên chế độ trách nhiệm hợp đồng theo phần. Các quan chức và các thợ cao cấp phụ trách một công trình sẽ lên kế hoạch thiết kế rồi trình lên cấp cao để phê duyệt. Sau đó, họ tính toán cụ thể khối lượng công việc và các tiêu chuẩn về chất lượng cũng như mức thời gian. Cuối cùng, công việc được phân bổ cho các đơn vị xây dựng trên nền tảng hợp đồng từ cấp cao đến cấp thấp. Khi một phần công trình đã hoàn tất, các quan chức và thợ cao cấp ở các mức khác nhau sẽ kiểm tra, họ sẽ chấp nhận hoặc bác bỏ, và có quyền ra lệnh cho đơn vị đó phải làm lại. Đơn vị làm không tốt có thể bị phạt tiền, thậm chí bị tù tội hoặc bị đánh đập. Từ giữa thời Minh, các đơn vị xây dựng phải khắc tên mình và phần công việc đã làm lên các cột. Những cột này được chôn sâu vào tường hay đặt trên mặt thẳng đứng (H.23).

Hình 23: Đơn vị xây dựng khắc tên lên tường thành

Vạn lí trường thành đã bị phá hủy trong hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác, nhưng các triều đại liên tục sửa chữa và củng cố. Đằng sau sự nỗ lực phi thường này không chỉ là tâm lí phòng thủ có gốc rễ sâu xa, ý chí mong muốn bền vững của các triều đại phong kiến Trung Hoa, mà còn là sự hi sinh vô bờ bến của cả dân tộc Trung Hoa.

Tư liệu của các triều đại cho thấy quy mô sức người, sức của đầu tư vào Vạn lí trường thành thật đáng kinh ngạc. Dưới thời nhà Tần và nhà Hán, mỗi thanh niên phải đi nghĩa vụ một năm tại Trường thành để làm phu hoặc lính canh. Nhằm bảo đảm đủ nhân lực cho công trình, Nhà nước đã đưa mức án lao dịch tại Vạn lí trường thành vào luật pháp. Luật nhà Tần cực kì hà khắc, các quan tòa xét mức án cho kẻ phạm tội dựa trên nguyên tắc ''phạt nặng cho lỗi nhẹ''. Vì vậy mà số tù nhân nhiều đến nỗi ''đường phố đầy những tù nhân''[3] (có lẽ đó là lúc họ được giải qua các thị trấn). Theo các bản văn bằng gỗ đời Tần thì đàn ông, đàn bà thời ấy đều có thể bị kết án lao dịch tại Trường thành nếu can tội đánh đập ông bà, cha mẹ hoặc trong khi đánh nhau với người khác mà giật đứt lông mày hoặc cắt tóc người ấy. Tần Thủy Hoàng đế còn bắt những học giả từ chối lệnh đốt sách cũng phải chịu án lao dịch này. Đã có nửa triệu tù nhân bị đưa đến Vạn lí trường thành, đầu họ bị cạo và phải đeo chuông vào cổ để đánh dấu thân phận.

Dưới thời Minh, Trường thành chủ yếu được xây dựng bởi quân đội biên phòng và một số lượng lớn những người bị kết án trong quân ngũ. Luật nhà Minh có 213 điều quy định những tội phải phạt lưu đày như: làm thương tổn người khác bằng vũ khí; quan chức tham ô, hối lộ; in giả các con dấu của nhà nước. Hình phạt lưu đày Vạn lí Trường thành chỉ đứng sau tội tử hình. Có hai loại lưu đày là lưu đày chung thân và lưu đày vĩnh viễn. Loại đầu chỉ áp dụng cho riêng phạm nhân, người ấy phải làm phu xây dựng hoặc lính canh tại Trường thành cho đến chết; loại thứ hai áp dụng cho cả gia đình phạm nhân, nếu phạm nhân chết thì những người trong gia đình phải thế chỗ, gia đình mà không còn ai thì họ hàng sẽ phải đi, và nếu họ hàng không còn ai thì thảm họa đó sẽ rơi xuống một trong các hàng xóm.

Nhân dân Trung Hoa đã phải trả giá nặng nề cho việc xây dựng Vạn lí trường thành. Lịch sử triều Hán viết rằng: khi Trường thành được xây dựng dưới quyền của tướng Mông Điềm, có vô số người đã chết, xác họ có ở khắp nơi và máu chảy dài cả ngàn dặm[4]. Vạn lí trường thành xưa đã từng là nỗi khiếp sợ và niềm tuyệt vọng của tất cả những người đã đổ xương máu để xây dựng nên nó. Truyền thuyết dân gian kể rằng: có một chiến sĩ canh gác ở Vạn lí trường thành, bặt tin nhà đã lâu; người cha già quá mòn mỏi đã vượt qua ngàn dặm đường để đến thăm con. Họ bất chợt gặp nhau trong một thung lũng, hai cha con ôm ghì lấy nhau, cười vang, cười mãi, cuối cùng đã gục chết vì quá xúc động. Nơi ấy được đặt tên là ''Đỉnh hạnh phúc'', đó chính là ải Tây Phong Khẩu thuộc tỉnh Hà Bắc, được xây dựng vào thời Minh. Ngày nay ''Đỉnh hạnh phúc'' ấy đã vĩnh viễn chìm sâu trong nước hồ Phan Gia Khẩu, để lại nỗi ngậm ngùi cho người đời sau.

Hình 24: Lầu Trừng Hải (Ninh Hải), nơi các hoàng đế Khang Hi

và Càn Long thường đến để ngắm cảnh biển

Rất nhiều tiền của đã đổ vào Vạn lí trường thành. Sử liệu nhà Minh cho biết, năm 1510, tổng thu Nhà nước khoảng 4 triệu lạng bạc chỉ đủ cung ứng cho 1/3 chi phí để tái thiết Trường thành và canh phòng nó. Riêng phần Trường thành từ Mộ Điền Cốc đến Sơn Hải Quan dài 500km do tướng Thích Kế Quang xây dựng đã tốn hết 11 triệu lạng bạc. Chi phí cho việc xây dựng một tháp canh là 600 lạng, một phong hỏa dài là 400 lạng. Từ đây bạn có thể đoán xem tổng chi phí của Vạn lí trường thành là bao nhiêu ?

Vai trò của vạn lí Trường thành

Vạn lí trường thành đóng vai trò quan trọng trong việc mở đường thông tin liên lạc và giao lưu văn hóa giữa Trung Hoa các nước ở phía tây, đó là cái nôi của những nền văn minh cổ đại rực rỡ như Hy Lạp La Mã, Ấn Độ Ai Cập cách đây 2.000 năm.

Vào thế kỉ thứ III trước Công nguyên, các bộ tộc Hung Nô phát triển mạnh ở phía bắc Trung Hoa, họ tiến về nam và lợi dụng quá trình chuyển tiếp từ thời Tần sang thời Hán, đã chiếm một số vùng ở trung thổ, trong đó có hành lang Cam Túc. Họ cũng chinh phục các nước phía tây làm bịt cửa ngõ thông thương sang phía này. Đến đời Hán Vũ Đế, bộ tộc Hung Nô lại bị đẩy lùi về phía bắc, hành lang Cam Túc được phục hồi. Triều Hán mở rộng ảnh hưởng của mình sang phía tây và mở con đường sang phía tây, dần đần có tên là Con đường tơ lụa. Để duy trì ảnh hưởng của mình và bảo đảm an toàn lưu thông dọc theo Con đường tơ lụa, nhà Hán lập ra 4 khu vực hành chính tại hành lang Cam Túc là: Đôn Hoàng, Tửu Tuyền, Trường Dịch, Vũ Uy và xây hai quan ải lớn là ải Dương và ải Ngọc Môn. Như vậy là Vạn lí trường thành được mở rộng dọc theo tuyến đường song song với Con đường tơ lụa, đến tận Lop Nor  (Tân Cương). Ải Dương là một thành trì quan trọng trong hệ thống phòng thủ của Trường thành, nằm ở phía tây nam Đôn Hoàng, được xây dựng vào năm 111 trước Công nguyên. Tương truyền, tăng sĩ nổi tiếng đời Đường là sư Huyền Trang đã đi ngang qua nơi này để trở về kinh đô Trường An sau khi kết thúc chuyến đi thỉnh kinh Phật ở Ấn Độ. Ngày nay, Dương quan đã bị chôn vùi trong những đụn cát, chỉ còn lại một số nền đất chơ vơ như muốn nhắc nhở đến một thời kì huy hoàng đã qua.

Nhà Hán đã đặt những binh đoàn hùng mạnh ở phía bắc để đề phòng Hung Nô xâm phạm. Chính vì bảo vệ Con đường tơ lụa mà chiến tranh với Hung Nô kéo dài suốt nhiều năm.

Nhờ Con đường tơ lụa mà các sản phẩm hàng hóa của Trung Hoa như lụa, giấy, sơn mài đã được xuất khẩu sang phương Tây. Ngược lại, đạo Phật, đạo Hồi, âm nhạc và các vũ điệu của phương Tây cũng được du nhập vào nội địa Trung Hoa. Việc buôn bán đã được tiến hành dọc theo con đường suốt nhiều thế kỉ. Rong ruổi trên sa mạc Gobi, nhiều khách lữ hành tìm được phương hướng nhờ các phong hỏa đài chạy dọc theo con đường đến trung thổ. Trong số đó có Marco Polo[5] nổi tiếng, ông đã đến Trung Hoa qua Con đường tơ lụa vào năm 1271.

- Vạn lí trường thành có vai trò to lớn trong việc giải quyết những mối xung đột giữa các tộc người. Có lẽ đây là điều nằm ngoài dự kiến ban đầu của các nhà cầm quyền trung thổ khi xây dựng Vạn lí trường thành.

Hầu như các nhóm tộc người ở phía bắc Trung Hoa đều có khuynh hướng chuyển xuống vùng trung thổ màu mỡ. Trong những đợt xâm nhập, họ cướp đi đủ loại của cải của vùng trung thổ như: tơ sợi, ngũ cốc, đồ sắt, châu báu, đặc biệt là một số lượng lớn nông dân, thợ thủ công và các học giả uyên bác. Chính những người bị bắt này làm trung gian để truyền bá kĩ thuật và văn hóa phong kiến vào sâu trong nội địa phương bắc. Song sự cướp đoạt ấy đã gây ra những tổn thất nặng nề cho vùng trung thổ. Trong vài thập niên đầu của triều Hán, hơn 200.000 người đã bị Hung Nô bắt đi. Con số này thực tế có thể còn cao hơn nhiều và số lượng của cải bị cướp đi là không thể tính được. Việc cướp đoạt tàn nhẫn đó đã khiến nhiều người bỏ trốn khỏi miền bắc trung thổ để đi về phía nam; đất đai vì thế mà bỏ hoang, sản xuất giảm sút đáng kể. Do đó, việc xây dựng Vạn lí trường thành là cần thiết để củng cố chế độ và bảo vệ việc phát triển kinh tế-văn hóa ở châu thổ. Trong bài viết nổi tiếng: ''Bài học của triều Tần''[6], một học giả thời Tây Hán đã ghi nhận: “Vạn lí trường thành như một chướng ngại dọc theo biên giới phía bắc, quân Hung Nô xâm lược bị đẩy lùi hơn 700 dặm về phía bắc và không ai trong chúng dám cho ngựa xuống phía nam ăn cỏ”7.

Theo thời gian, sự hiện diện của Vạn lí trường thành giúp các vương triều trung thổ theo đuổi một chính sách linh động với các láng giềng phương bắc. Các cuộc chiến tranh kéo dài triền miên đã làm cả hai bên mệt mỏi. Hơn nữa, việc tái thiết Vạn lí trường thành đã đặt các tộc Hung Nô vào hoàn cánh khó khăn. Họ thiếu thực phẩm đến nỗi phải cướp đoạt lẫn nhau. Cuối cùng, họ buộc phải chấp nhận chung sống hòa bình với người Hán. Chợ búa được mở tại các ải của Vạn lí trường thành, những mối quan hệ thân thuộc cũng theo đó mà hình thành và phát triển. Các công chúa Hán thành hôn với các tù trưởng Hung Nô. Hàng năm, các tộc Hung Nô đều gửi cống phẩm đến triều đình và triều đình cũng ban tặng lại cho họ vải, lụa, rượu, gạo và những thực phẩm khác. Trong chương viết về Hung Nô của sách Lịch sử triều Hán có đoạn: "Các cổng của Vạn lí trường thành được đóng trong hòa bình, bò và ngựa có mặt khắp nơi trên các cánh đồng. Suốt ba thế hệ, chó không sủa báo động và người ta không phải đánh nhau8.

Đến cuối thời nhà Nguyên (1271 - 1868), sự tham nhũng và bất tài của giai cấp cầm quyền cùng với sự nghèo khổ khốn cùng của nhân dân lao động đã dẫn đến cuộc nổi dậy trong cả nước. Nhà Nguyên bị đánh đuổi về phía bắc của dãy Yến Sơn và sông Hoàng Hà. Triều Minh lên cầm quyền ở trung thổ. Một số người Mông Cổ không chịu thần phục đã quay lại cuộc sống du mục ở sa mạc Gobi. Những cuộc tiến công đột kích vào trung thổ lại tái diễn, điều này khiến nhà Minh phải tái thiết Vạn lí trường thành. Trong khi các trận chiến ác liệt diễn ra dọc theo Trường thành, các quan hệ thương mại và ngoại giao giữa các bộ tộc phương bắc với chính quyền trung thổ vẫn tiến triển. Một số tộc bên ngoài gây chiến với nhau và tranh thủ sự ủng hộ của nhà Minh. Triều Minh đã phong cho họ những tước hiệu như Hoàng thái tử Đức độ và Công minh, Hoàng thái tử Quy phục và Hòa bình, Hoàng thái tử Hòa bình và Hạnh phúc... Một tình huống hòa bình đan xen chiến tranh kéo dài dọc theo Vạn lí trường thành gần 200 năm.

Trong lịch sử hơn 2.000 năm, vùng phía bắc Trung Hoa trải qua nhiều thời kì biến động, các thay đổi đó thể hiện qua công cuộc xây dựng và tái thiết Trường thành. Do những thay đổi về hình thể của Trường thành, các cộng đồng tộc người sống trong Trường thành lúc này có thể thấy họ ở ngoài Trường thành vào lúc khác. Các nhóm tộc người ở hai bên Trường thành đã trải qua những cuộc xung đột đẫm máu cũng như chung sống thân thiện, dần dần họ hòa nhập vào nhau qua những tiếp xúc hòa bình hoặc bạo lực. Ngay cả những nhóm bị mất đi các điều kiện để tồn tại độc lập, lại được tái sinh nhờ dòng máu của các tộc khác. Một số nhóm trở thành một phần của nhóm lại mới và không còn thuần chủng như trước nữa. Sự kết hợp ấy nhanh chóng bền rễ sâu gốc, điều đó giải thích vì sao khi một nhóm thiểu số giành quyền kiểm soát cả nước, họ luôn tuyên bố mình là người thừa kế hợp pháp nền văn hóa trung thổ. Để bảo vệ nền văn hóa đó, họ cũng tự đặt ra nhiệm vụ củng cố tuyến phòng thủ biên giới phía bắc như các vua đời Hán đã làm (chuyện đó xảy ra dưới các triều Bắc Ngụy, Nguyên...). Như vậy, mặc dù được dựng lên như một tuyến phòng thủ, Vạn lí trường thành không ngăn chặn quá trình kết hợp chủng tộc, thay vào đó, nó lại hấp dẫn các tộc người bên ngoài và bên trong, và kết hợp họ với nhau thông qua quá trình tiếp xúc. Quá trình này diễn ra bất chấp ước vọng hoặc ý đồ của những nhóm người này. Vạn lí trường thành về một ý nghĩa nào đó, là người mai mối cho sự kết hợp giữa các tộc người, điều hòa những xung đột giữa các tộc người, đồng thời góp phần tạo nên động lực và bổ sung sức sống tươi trẻ cho sự phát triển kinh tế, chính trị và nền văn hóa truyền thống của dân tộc Trung Hoa.

Vạn lí trường thành ngày nay đã mất đi ý nghĩa phòng thủ, nhưng sự hiện diện lâu dài của nó đã làm xao động trái tim và tâm trí của người Trung Hoa và trở thành một phần cuộc sống của họ. Lịch sử, thơ ca và các hình thức văn hóa khác đều có đề cập đến Vạn lí trường thành. Đặc biệt thơ ca biên giới thời Đường thường lấy chủ đề về Trường thành như: mô tả nỗi nhớ nhà của người lính biên phòng, cuộc sống khổ cực và hi sinh của họ; sự tàn bạo của chiến tranh và nỗi khổ đau của dân chúng; sự phản kháng của xã hội...

Vương Hán, một nhà thơ xuất hiện vào đầu thế kỉ thứ VIII đã tâm sự:

Rượu trong tách ngọc ngon làm sao.

Đêm nay nâng cốc chúc nhau.

Điệu nhạc sao mà du dương quá!

Từ dây đàn trên lưng ngựa,

Đừng cười nhạo tôi, thưa Ngài!

Vì đã nhụt chí rồi giữa hai trận chiến

Vì từ xưa, có bao người trở về sau cuộc chiến mà còn toàn vẹn đâu!

Vượt lên trên tất cả đau thương và mất mát, Vạn lí trường thành bất chấp thời gian, sừng sững trong không gian, chứa đựng sức sáng tạo và tinh thần bền bỉ của dân tộc Trung Hoa, nó mãi mãi xứng đáng là một kì quan kiến trúc của con người.

Hình 25: Trường thành ở Mộ Điền Cốc

 



[1] The Great wall in Beijing. China Esperanto Press. 1996. page 88.

[2]. Đây chỉ một kỳ thi được tổ chức dưới thời nhà Minh, chưa rõ cụ thể là vào  triều vua nào.

[3] Rare pictures of the Great wall. Morning Glory Publishers. 1990. page 10.

[4]  The Great wall in Beijing, page 52.

[5] Marco polo là một nhà du lịch người Ý, ông đã đến các nước Phương Đông vào thế kỉ XIII.

[6] ,7,8  Rare Pictures pictures of the Great wall. page 13, 14.

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Khám phá & Phát minh   Các công trình kiến trúc nổi tiếng trong lịch sử thế giới cổ Trung đại   Kiến trúc tiêu biểu cho nền văn minh Trung Hoa
Vạn lý Trường thành
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google