Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
Tiêu điểm
Các nguồn năng lượng mới
Bối cảnh xuất hiện của con người
Niên đại địa chất
Một số dạng vượn - người và...
Ứng dụng khoa học vũ trụ phục...
Sinh học và nguồn gốc của sinh...
Thiên văn vô tuyến và những...
Khoa học vũ trụ thế kỷ XXI
Ứng dụng của laser - một thành...
Phân tử hữu cơ trong vũ trụ....
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Danh nhân Thế giới   101 Triết gia


NICHOLAS XỨ CUSA

NICHOLAS XỨ CUSA

TIỂU SỬ

            NICHOLAS XỨ CUSA (1401 – 11/8/1464), triết gia, nhà toán học, nhà thiên văn Đức, người nhấn mạnh đến bản tính bất toàn của tri thức con người về Thượng Đế và vũ trụ. Sinh tại Kues trong thung lũng Moselle, con trai của một người trông nho nấu rượu vang giàu có. Ông là một trong ít các triết gia vĩ đại sống một cuộc đời đầy bận rộn từ thiếu thời đến khi qua đời. Ông phụng sự Giáo hội với tư cách là giám mục, hồng y, giám mục tổng đại diện ở Rome.

            Mặc dù rất sùng tín, Cusa đồng thời biết vui hưởng niềm vui bầu bạn với các tu sĩ. Khi ông về già, người ta thu xếp cho ông một căn phòng nhỏ yên tĩnh, để khi cần, ông đến đó một mình trầm tư. Mặc dù những hoạt động chính trị đầy sóng gió và những hành trình gian khổ tiêu hao nhiều năng lực của ông, nhưng ông vẫn để lại nhiều trước tác triết học mà tầm quan trọng của chúng ngày nay được thừa thận rộng rãi. 

            Công việc trước tác nay không phải là thú vui hay sự tiêu khiển trong lúc rảnh rỗi: nó bắt nguồn từ những hoạt động thực tiễn. Nhưng việc tìm kiếm sự thống nhất giữa lý thuyết và thực hành của ông càng ngày càng gây thất vọng khi ông lớn tuổi. Ông mong muốn những việc làm của ông là một phần gắn kết của tầng lớp trí thức đón nhận Thượng Đế và thế giới, con người và giáo hội. Hẳn ông đã được thúc đẩy bởi một sức mạnh nền tảng có thể siêu việt cả tư tưởng và hành động của ông. Không đạt được ý định thứ nhất (hành động), ông phải dùng đến suy luận triết học, nhưng triết học của ông không phải là thứ triết học có thể đem đến cho ông sự yên tĩnh và thư thái thường xuyên khi đối diện với vạn hữu trong thế giới.

            Tính khiêm tốn, sự xa lánh lối sống xa hoa, và sinh hoạt giản dị mà không rơi vào chủ nghĩa khổ hạnh khắc nghiệt khiến ông được mọi người kính trọng. Chúng ta không thể nghi ngờ ý thức trách nhiệm hay sự thành thực trong sự tận hiến của ông. Nhưng thực tại mà ông đối mặt không như ông hình dung, và đúng là ông không biết đến sự thực này cùng những hệ quả của nó. ''Thực tại'' là gì? Câu hỏi trở nên đặc biệt cấp bách khi chúng ta nghiên cứu con người với những hoạt động trần thế của ông hướng về Thượng Đế và sự vĩnh cửu này, tuy rằng, cuối cùng vẫn không trả lời được.

            Cusa xa gia đình ở tuổi mười hai: Người ta đồn rằng, ông bị cha ông ghẻ lạnh và ngược đãi. Nhưng dù gì đi nữa thì rõ ràng ông đã sống độc lập từ rất sớm. Vẫn theo lời truyền miệng, năm 1413 một người tên là Count von Manderscheid gởi ông đến tu viện Huynh Đệ Sống Chung ở Deventer để được học hành. Tại đây có lẽ ông đã được học tiểu học và sống trong bầu không khí mộ đạo thần bí. Năm 1416, Ông vào đại học Heidelberg (đây là sự kiện đầu tiên mà chúng ta có bằng chứng tư liệu); năm 1417, ông đến Padua học trong sáu năm. Tại Padua, ông bắt đầu làm quan với thế giới trí thức của thời kỳ đó. Ít nhất có hai người thầy trở thành bạn ông - Toscanelli, bác sĩ, nhà địa lý và nhà vật lý, người có mặt bên cạnh Cusa khi ông lìa đời, và Giuliano Cesanni, hồng y giáo chủ và là chủ tịch Hội đồng Thành phố Basel, người bảo trợ cho sự nghiệp phụng sự giáo hội của Cusa vào thời gian đầu ở Basel. Cusa nghiên cứu với niềm say mê của một thanh niên quyết tâm tinh thông mọi kiến thức. Ông khởi sự học toán học và thiên văn học, vật lý và y học, văn học cổ và chủ nghĩa nhân đạo mới. Nhưng lĩnh vực nghiên cứu chính của ông là luật học; năm 1423, ông lấy bằng Tiến sĩ luật giáo hội tại đại học Padua.

            Chỉ đến lúc đó ông mới tiếp tục nghiên cứu thần học tại đại học Cologne, nơi ông được đăng ký với chức danh tiến sĩ luật giáo hội (doctor in jure canonico) (1425). Năm 1427, ông được bổ nhiệm làm tu viện trưởng St. Florin Foundation ở Coblenz, và năm 1430, được các linh mục địa phận Trier chọn làm tổng giám mục.

            Năm 1451 và 1452, Cusa đi khắp nước Đức với tư cách là đại sứ của Giáo hoàng, lo viện cải cách nhà thờ và tu viện. Nhìn chung sứ mệnh này của ông là một thất bại lớn.

            Từ đó cho tới khi chết, ông tiếp tục làm việc dưới quyền Giáo hoàng, sáu năm cuối đời ông làm tổng đại diện tòa thánh La Mã. Trong thời gian này, ông hoạt động như nhà cố vấn tin cậy nhất của Giáo hoàng Pius II, người đã là bạn ông trong mấy chục năm. Cusa chết trong khi đang thực hiện sứ mệnh cuối cùng, ngày 11 tháng 8 năm 1464, tại Todi ở Umbrica. Ba ngày sau, Pius II cũng qua đời tại Ancona và cuộc thập tự chinh thần thánh chống lại người Thổ, do Giáo hoàng cương quyết tiến hành mặc lời khuyên của Cusa, đã kết thúc trong nhục nhã.

TRIẾT HỌC

            Cusa đưa ra khái niệm sự ngu dốt trí thức (docta ignorantia) và sự trùng hợp ngẫu nhiên của những cái đối lập (coincidentia oppositorum), và ông cho rằng, ông là người đầu tiên trình bày hai khái niệm này. Lời tuyên bố này có vẻ không có cơ sở. Sự trùng hợp ngẫu nhiên của những cái đối lập, hay ít ra là ý tưởng cho rằng, mọi cái đối lập đều được siêu vượt có từ rất lâu trong  các trước tác của trường phái Plato mới. Còn thuật ngữ docta ignorantia (ngu dốt trí thức) từng được St.Augustine đặt ra. Vì không có gì thường khi đưa ra những khám phá như vậy trong các bản văn triết học có từ thái Plato trở đi, chúng ta dễ bị quyến rũ đặt câu hỏi cũ: Vậy thì, cái gì thực sự mới? Nếu chúng ta xem xét kỹ lưỡng, chúng ta sẽ thấy rằng, mọi thứ đều đã được nói hết. Và điều này đúng cho những cách diễn đạt ngôn ngữ đơn thuần. Nhưng nó không đúng về chính phương diện tư tưởng. Sự độc đáo của một ý tưởng nằm trong nhận thức thấu suốt đột xuất của nhà tư tưởng, có lẽ nó được bật lên bởi điều mà ông ta đang nghiên cứu hoặc có lẽ bởi điều gì ông ta đã từng đọc và đã quên. Cái mới khách quan của một ý tưởng có thể được nhìn nhận bảng sư kiện, khi liên hệ đến những ý tưởng khác trong một tác phẩm, nó bộc lộ một tính chất độc đáo, không thể thay thế, một đặc điểm nền tảng, có thể nói như vậy, chi phối sự phát triển của tác phẩm nói chung. Những điểm nền tảng trong nghiên cứu triết học của Nicholas là:

            A. Suy tư lan man và cái hữu hạn. Khi tôi suy tư, tôi suy tư một cái gì rõ rệt và tách biệt với những cái khác. Đồng thời những cái mà tôi nghĩ về theo cách này liên quan đến nhau. Tôi so sánh chung với nhau. Tôi áp dụng một tiêu chuẩn thẩm định nào đó cho bất cứ cái gì có, để có thể định nghĩa nó. Suy tư là phán đoán. Trong những mệnh đề có sự phán đoán, chủ ngữ có tương quan đến vị ngữ. Nhưng cái được suy tư hay được phán đoán đối diện với chủ thể suy tư như đối tượng của tư duy.

            Do vậy chúng ta luôn suy tư trong thế lưỡng phân (dichotomy): lưỡng phân giữa cái tôi suy tư và đối tượng tư duy, sự lưỡng phân do chúng ta gây nên trong đối tượng bằng cách rút ra những khác biệt, bằng cách nhận ra những cái tương phản hay nghịch lý.

            Giữa tiêu chuẩn thẩm định và cái được thẩm định luôn luôn có sự khác biệt. Luôn luôn có thêm những khác biệt, và khi chúng ta tiến tới chúng ta phát hiện vô số sự khác biệt. Đây là lĩnh vực của cái thêm và cái bớt, cái lớn hơn và cái nhỏ hơn, lĩnh vực của câu tương đối, không phải của cái tuyệt đối.

            B. Vượt qua lĩnh vực của cái hữu hạn: Một thế giới như thế hiện ra trong trí tuệ rời rạc của chúng ta. Nhưng nó làm chúng ta không thỏa mãn. Chúng ta muốn vượt quá thế giới này nơi luôn có một cái lớn hơn và cái nhỏ hơn, để bước vào một thế giới của cái lớn nhất một cách tuyệt đối và cái nhỏ nhất một cách tuyệt đối, tức là, chúng ta muốn đi từ lĩnh vực của những giới hạn đến cái không giới hạn, từ lĩnh vực của cái hữu hạn đến vô tận.

            C. Giữa cái hữu hạn và cái vô hạn không có hạn từ chung: Chúng ta chỉ có tri thức về những cái hữu hạn, không có tri thức về những cái vô tận. Chúng ta không thể đạt tới cái vô tận, dù chúng ta tiến lên rất xa và thường xuyên như thế nào trong cái hữu hạn: công việc so sánh và thẩm định của chúng ta không bao giờ dừng. Dù cái hữu hạn mà chúng ta nhận ra to lớn như thế nào hay nhỏ nhoi ra sao, nó vẫn là hữu hạn. Có một khoảng trống, một sự gián đoạn giữa cái hữu hạn và cái vô tận. Nếu hạn từ “thế giới'' chỉ định cái hữu hạn và vũ trụ của cái hữu hạn và “Thượng Đế” vô cùng, thì khoảng trống này, sự gián đoạn này, vực thẳm không thể vượt qua này nằm giữa thế giới và Thượng Đế.

            D. Ngu dốt trí thức và sự trùng hợp ngẫu nhiên của những cái đối lập. Mặc dù cái vô tận ''tránh né'' mọi tương quan với cái hữu hạn, nó vẫn hiện diện trong sự nhận thức của chúng ta: nó bộc lộ chính nó trong sự nhận thức của người suy tư; khi lý trí của anh ta vỡ ra, anh ta khám phá trong bản thân mình một năng lực bứt phá những ràng buộc của lý trí rời rạc, mà lôgic của nó chỉ vững chắc trong phạm vi của riêng nó. Năng lực này là trí tuệ, hay lý trí tư biện, nó sử dụng lý trí rời rạc nhưng có thể thấu suốt vào những gì là lý trí rời rạc không thể tới được.

            Cái vô tận của thánh thần là bất khả tiếp cận đối với tri thức rời rạc, nhưng trí tuệ có thể chạm đến nó miễn là lý trí rời rạc còn ở trong tình trạng ngu dốt trí thức. Lúc này sự ngu dốt không phải là sự ngu dốt trống rỗng của người không biết về sự không biết, hay thờ ơ với những gì anh ta không thể biết. Đúng hơn, nó là sự ngu dốt trí thức, nó được phát triển trong tư duy và có thể được lấp đầy bằng nội dung.

            Sự trùng hợp ngẫu nhiên của những cái đối lập là một hình thức mà sự ngu dốt này khoác lấy. Nó bất chấp lý trí rời rạc. Nó đưa ra một giải pháp bắt nguồn từ kinh nghiệm khác hoàn toàn với kinh nghiệm giác quan và thuần lý - để làm sáng tỏ kinh nghiệm mới này theo thể thức lôgic - ngoại lý, và nhờ đó phơi bày nó, sinh ra nó bằng tư tưởng, trong sự dồi dào hơn nhiều.

            E. ''Bức tường''. Cusa có cách riêng để mô tả ranh giới giữa những sự vật hữu hạn của lý trí rời rạc và lĩnh vực của cái vô tận mà trí tuệ muốn đạt tới. Có một bức tường rất cao bao quanh lãnh địa của thánh thân, chúng ta không thể trèo qua. Nhưng những gì nằm đằng sau bức tường đó là tích cực hiện hữu, rất cơ bản. Chúng ta thất bại khi tìm cách vượt qua bức tường, nhưng trong tiến trình ''trèo tường'' để đến gán nó, chúng ta nhận thấy nó như dấu chỉ của thánh thần.

NHỮNG TÁC PHẨM CHÍNH

            De Concordantia Catholica (1435; Về Sự Hài hòa Công giáo)

            De Docta Ignorantia (1440; Sự Ngu dốt Tri thức)

            De Visione Dei (1453; Tầm nhìn Thượng Đế)

 

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Danh nhân Thế giới   101 Triết gia
Duns scotus
William xứ Ockham
Nicholas xứ Cusa
Niccolò Machiavelli
Francis Bacon
Thomas Hobbes
René Descartes
Pierre Gassendi
Blaise Pascal
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google