Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
Tiêu điểm
Điện hạt nhân trên thế giới...
Những số liệu chủ yếu
Lịch sử hình thành trái đất
Các nhân tố chi phối sự hình...
Lược sử các phát minh
Quá trình tiến hóa của các ngôi sao
Nghiên cứu thám hiểm các hành tinh
Sinh học và nguồn gốc của sinh...
Các nguồn năng lượng mới
Nguyên tử và phân tử trong vũ trụ
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Danh nhân Thế giới   101 Triết gia


PIERRE GASSENDI

PIERRE GASSENDI

            PIERRE GASSENDI (1592 - 1655), triết gia Pháp, sinh tại Champtercier, gần Digne, theo học các trường đại học ở Aix-en-provence và Avignon. Năm 1617, ông được phong làm giáo sư triết học tại đại học Aix-en-Provence. Năm 1634, ông được bổ nhiệm làm linh mục chánh xứ Digne, và năm 1645, ông trở thành giáo sư toán học tại Học viện Hoàng gia ở Paris. Ông về hưu năm 1648. Với tư cách một triết gia ông nổi tiếng trước hết với những nỗ lực công kích triết học Aristotle; ông cũng tham gia tranh luận với triết gia Pháp René Descartes về bản tính của vật chất. Những học thuyết của Gassendi được coi là mở đường cho các phương pháp thường nghiệm hiện đại, đi trước triết học của triết gia Anh John Lock và triết gia Pháp Bonnot de Condillac, ông là người đi đầu trong việc phục hồi sự quan tâm đối với triết học của Epicurus trong thời hiện đại. Về khoa học, ông chủ yếu đi sâu vào lĩnh vực thiên văn và nghiên cứu bản đồ. Năm 1631, Gassendi trở thành nhà thiên văn đầu tiên quan sát sao Thủy đi qua Mặt Trời đúng như dự đoán của Kepler. Câu nói thời danh của ông là: ''Thế giới là một cỗ máy, và chúng ta phải tìm hiểu nó bằng cách nhìn kỹ nó.''

TRIẾT HỌC

            Đối với nhiều nhà bình luận, học thuyết tri thức thực nghiệm và những công trình phản bác tác phẩm Các suy niệm siêu hình học của Descartes được coi như những đóng góp quan trọng nhất của Gassendi vào triết học. Trong tri thức luận của mình, ông đưa ra hình mẫu hiện đại đầu tiên về tri thức có từ các giác quan để được hòa nhập với sự lý giải mang tính sinh lý học về tri giác. Trong khi phản bác Descartes, ông phủ nhận tiêu chí rõ ràng và minh bạch, tìm cách phá hủy những suy luận đằng sau cogito (bản ngã tư duy), và công kích chứng cứ hữu thể luận.

            Nền tảng của học thuyết chống lại Aristotle của Gassendi là không có gì nhất thiết về phương cách thế giới tồn tại. Ông cho rằng Thượng Đế có thể đã làm cho thế giới hoạt dộng theo một vài phương cách, và lịch sử bất tất cùng đặc tính của sự sáng thế cho ta biết rằng không có ai bất biến về yếu tính của vật chất. (Chuyện một ''bản thể'', trong ý nghĩa của trường phái Aristotle hay Descartes, có thể có một yếu tính bất biến, là một chuyện khác, còn trong chứng mực Gassendi có một ý tưởng như thế (ví dụ, liên quan đến không gian, thời gian, vật chất và chân không) là ông nhất trí rằng nhưng sự vật ấy đều có những đặc tính thiết yếu - sine qua none - bất biến). Hơn nữa, Gassendi khẳng định rằng, bất chấp việc có các yếu tính hay không và chúng có khả biến hay không, chúng ta không thể lĩnh hội yếu tính nào cả. Nguồn gốc duy nhất của tri thức chúng ta là thông tin do giác quan cung cấp, vì vậy những gì chúng ta biết gắn chặt với những gì chúng ta tri giác. Tuy nhiên, như Descartes lưu ý, chúng ta chỉ tri giác được cái bề ngoài. Ở luận điểm này, Gassendi rút ra được một bài học phi Descartes rằng những cái bề ngoài cũng là tất cả những gì chúng ta có thể biết được - từ đó ông loại trừ tri thức về những yếu tính không thể tri giác. Cách suy luận này có thể tìm thấy ở những chỗ ông tranh luận về tính tương đối của giác quan và kinh nghiệm cá nhân - rằng mật thì ngọt đối với tôi, mặc dù đắng đối với anh; và rằng lửa hình như nóng đối với chúng ta, mặc dù không như vậy đối với sâu bọ sống gần lửa. Bởi vì những con người khác nhau có những kinh nghiệm khác nhau, cho nên tri thức chúng ta về vị mật hay sức nóng của lửa khác nhau từ người này đến người kia và vì vậy không phải là người hướng dẫn tin cậy đến với những tính chất khả biến của, chẳng hạn, mật hay lửa. Trong những trường hợp như thế này, chúng ta biết những phẩm chất của một vật chỉ như chúng ta ghi nhận về chúng trên cơ sở chủ quan. Những thông tin giác quan như thế, dựa trên kinh nghiệm biến đổi theo từng cá nhân, không thể mang lại những phán đoán về phẩm chất của một vật mà không biến đổi theo cách này (hay cách khác). Vì lẽ đó, chúng ta thiếu tri thức về yếu tính của sự vật, nếu thực sự có yếu tính. Suy rộng hơn, từ nguồn ý tưởng chủ yếu của chúng ta - các giác quan - chúng ta chỉ có thể biết các sự vật xuất hiện trước chúng ta.

            Gassendi cũng phản đối quan điểm Aristotle cho rằng chúng ta có thể biết những khái niệm phổ biến, viện lẽ rằng chúng ta không thể tri giác được cái gì khác ngoài những cái cá biệt trong thế giới này. Từ đó suy ra, không có bất kỳ khái niệm phổ biến nào để chúng ta nhận biết. Một số nhà bình luận (như Bloch, Rochot và Olser) cho rằng thuyết duy danh (nominalism) là quan điểm chính yếu của Gassendi, căn cứ vào sự phản bác yếu tính và khái niệm phổ biến và tri thức luận dựa hẳn vào cái bề ngoài của ông. Nhưng thuyết duy danh của Gassendi - nếu có như thế, trong nghĩa chính thống - không nhằm đưa ra một đánh giá bản thể luận mà là một phát biểu về những giới hạn của năng lực tinh thần con người.

            Đi xa hơn trong sự khẳng định mọi tri thức đều xuất phát từ giác quan, Gassendi tranh cãi về một quan điểm (được cả Deseartes và trường phái Aristotle chia sẻ) cho rằng có những mệnh đề chúng ta có thể biết chắc chắn. Bởi vì mọi mệnh đề được đánh giá là đúng hay sai trên cơ sở kinh nghiệm, không có mệnh đề nào được coi là không thể nghi ngờ, ngoại trừ những mệnh đề của thần học và vũ trụ luận xuất phát từ thần học. Trong chứng minh lôgic, dù là quy nạp hay diễn dịch, cũng thiếu chắc chắn. Gassendi nói, không có gì chắc chắn về các chứng minh như thế, ngoại trừ những giới hạn do sự yếu kém của năng lực trí tuệ con người in dấu lên chúng.

            Điều mà Gassendi nghĩ cần có những hiệu chỉnh về thông tin giác quan làm rõ thêm chiều sâu những phản bác của ông đối với thuyết nền tảng tri thức luận trong tư tưởng của trường phái Aristotle và Descartes: chúng ta không thể tin cậy ngay cả thông tin từ các giác quan đem đến cho chúng ta một bức tranh không sai sót về thế giới. Ông nhất trí với trường phái hoài nghi rằng không có nguồn tin tưởng nào có thể bảo đảm cho sự chắn chắn. Tuy nhiên ông không thể chấp nhận việc họ gạt bỏ toàn bộ bằng chứng xuất phát từ giác quan đối với sự tin tưởng. Tri thức từ giác quan chỉ khả hữu trong trường hợp chúng ta đảm bảo cho những phán đoán về những cái bề ngoài, mặc dù chúng ta thiếu đảm bảo cho sự chắc chắn về những phán đoán đó.

            Chúng ta thấy ở đây một lời đáp ''hoài nghi xây dựng'' cho trường phái hoài nghi, những người nói rằng không tri thức nào khả hữu và cho các nhà tư tưởng giáo điều cổ đại (trong đó, theo Gassendi, có cả những người theo triết học Aristotle và triết học Descartes), những người nói tri thức đòi hỏi phải có được sự tin tưởng chắc chắn - và có thể đạt được dễ dàng. Mặc dù không thể có những tin tưởng chắc chắn, hoàn toàn có thể có tri thức nếu như chúng ta hiểu nó như sự tin tưởng được biện minh nhưng thiếu chắc chắn.

            Gassendi còn phản đối những tiêu chí của Descartes về sự rõ ràng và minh bạch, hoặc như một tiêu chí được đánh giá những ý tưởng hoặc như nguồn đảm bảo tri thức luận. Về tiêu chí đánh giá những ý tưởng, Gassendi chỉ rõ rằng lý trí, bao gồm những phán đoán trí tuệ và sự phân tích thông tin giác quan, tự nó dễ dẫn tới sai lầm. Ông viết: ''mặc dù sự lừa gạt, hay giả dối, không tìm thấy ngay trong bản thân các giác quan, vốn chỉ thụ động thuật lại những sự vật đúng như chúng hiện ra và đúng như chúng phải hiện ra xét theo nguyên nhân của chúng, nhưng sự lừa gạt được tìm thấy trong phán đoán, hay trí tuệ, khi nó không làm việc với đủ thận trọng và không lĩnh hội được rằng những sự vật ở xa... hiện ra mơ hồ hơn và nhỏ hơn khi chúng hiện ra ở cận cảnh.

            Gassendi cho rằng những quả quyết dựa trên thông tin giác quan đáng tin cậy hơn những quả quyết dựa trên suy luận, lý do là các giác quan thụ động (do đó ổn định) thu thập thông tin, trái ngược với phán đoán trí tuệ của chúng ta chủ động (do đó thất thường) tổ chức và liên kết thông tin. Điều này không có nghĩa là chúng ta sẽ không có vấn đề gì rắc rối khi đánh giá sự đảm bảo những quả quyết dựa trên thông tin giác quan khi chúng ta thu thập nó.

            Hơn nữa, tiêu chí của triết học Descartes không liên quan gì tới việc đánh giá những trùng hợp của tri thức kinh nghiệm, Gassendi nhận xét - và ngay cả nếu như tiêu chí này có liên quan, thì dù vậy những quả quyết của Descartes về tri thức cũng sẽ không giá trị. Thứ nhất, trong trường hợp của tri thức kinh nghiệm, Oassendi cho rằng tiêu chí của triết học Descartes không có giá tin vì những lý lẽ của phái hoài nghi cổ điển: có thể chúng ta có những ý tưởng từ các giác quan mà chúng ta cho là rõ ràng và minh bạch, mặc dù vậy chúng không phải là cơ sở cho những quả quyết được đảm bảo đối với tri thức kinh nghiệm. Cho dù chúng ta có những ý tưởng rõ ràng và minh bạch về những cái bề ngoài của những hạn, màu sắc bầu trời, chúng ta không thể suy ra từ sự rõ ràng và minh bạch đó rằng chúng ta biết màu của bầu trời là gì. Như các nhà hoài nghi báo trước, bầu trời có thể hiện ra cho những con người khác nhau với những màu sắc khác nhau. Thứ hai, những quả quyết tri thức của Descartes chỉ được chứng minh bằng lý trí và bị Gassendi gạt bỏ vì cho là phiến diện và lộn xộn do thiếu tính chất tức thì của phán đoán mà chúng ta đạt được bằng những phương tiện thực nghiệm nghiêm ngặt. Trong khi nhưng ý tưởng chúng ta có được tư các giác quan trực tiếp trình hiện những sự vật và biến cố của thế gian, thì những ý tưởng chúng ta có được bằng chứng cứ diễn dịch chỉ là những loại suy có tính giả thuyết so với những ý tưởng xuất phát từ giác quan.

            Tóm lại, những quả quyết có biện luận của chúng ta không hoàn toàn rõ ràng và minh bạch bởi vì chúng ta đạt tới chúng thông qua trung gian của những ý tưởng về tri thức kinh nghiệm của chúng ta. Do đó những quả quyết được ấp ủ nhất của Descartes về những thuộc tính cơ bản của tinh thần, Thượng đế, và vật chất không nói lên được tiêu chí riêng của ông vì thiếu nền tảng trực tiếp trong những ý tưởng của chúng ta từ giác quan.

            Không phải tất cả những phê phán của Oassendi đối với tiêu chí Descartes đều có nguồn gốc sâu xa từ sự ủng hộ của ông đối với tri thức đến từ giác quan. Do đó, ông cho rằng, một vấn đề khác đối với tiêu chí đó là nó không thực hiện được dự phóng về thuyết nền tảng (foundationalist) của nó. Phòng khi một vài ý tưởng rõ ràng và minh bạch của chúng ta hóa ra sai lầm, chúng ta sẽ đòi hỏi thêm một tiêu chí nữa để phân biệt chúng với những ý tưởng chính xác. Và nếu tiêu chí mới này chỉ là một cái gì ''rõ ràng và minh bạch hơn'', thì chúng ta đang ở trên đường đến với vô tận những tiêu chí cao cấp hơn, và như vậy những mục tiêu của dự phóng thuyết nền tảng một thuyết về tri thức luận cho rằng tri thức phải được coi như một cấu trúc xây dựng trên những nền tảng vững chắc. Những nền tảng này được tìm thấy trong sự kết hợp giữa kinh nghiệm và lý trí, với những trường phái khác nhau (kinh nghiệm luận, chủ nghĩa duy lý) nhấn mạnh vai trò của cái này đối với cái kia. Thuyết nền tảng liên quan đến trường phái khắc kỷ thời cổ đại và Descartes, người khám phá những nền tảng của mình trong các ý tưởng ''rõ ràng và minh bạch'' của lý trí bị phá hủy hoàn toàn. Sau cùng, Gassendi đề xuất điều mà chính Descartes gọi là sự phản bác những phản bác''. Những ý tưởng rõ ràng và minh bạch của chúng ta hoàn toàn phù hợp với quan điểm duy ngã, nhưng rồi cái duy nhất chúng ta có thể biết với sự chắc chắn là những tư tưởng của riêng chúng ta. Tuy nhiên tiêu chí khả thi phải (a) phân biệt những quả quyết tri thức của chúng ta về thế giới bên ngoài, và (b) chứng tỏ những quả quyết duy ngã là tiền đề khả nghi. Bao trùm lên những phản bác này, Gassendi cho rằng Descartes đã đặt cỗ xe trước con ngựa bằng cách gợi ý rằng chúng ta có thể sẵn sàng thừa nhận cái gì rõ ràng và minh bạch và dùng nó như người hướng dẫn đến với cái bất khả nghi trong khi cái chúng ta cần trước hết là một người hướng dẫn nào đó đến với những gì rõ ràng và minh bạch.

            Dường như vấn đề không phải là để biết con người có phải lĩnh hội sự vật một cách rõ ràng và minh bạch để không bị sai lầm hay không, mà là để biết bằng cách nào hoặc phương pháp gì để có thể nhận rằng con người có một khái niệm rõ ràng và minh bạch đến mức nó là sự thực và chúng ta không thể sai lầm.

NHỮNG TÁC PHẨM CHÍNH

            Fifth Set of Objections to Descartes’s Meditations (1642; Tập hợp thứ năm những phản bác chống lại Những suy tưởng của Descrates).

            Exercitations Paradoxiae adversus Aristotelicos (1624; Những nỗ lực chống lại trường phái Aristotle).

            Disquisito Metaphysica (1646)

            De vita et Moribus Epicuri (1647; Cuộc đời và tính cách của Epicurus)

            Syntagma Philosophicum (1658)

 

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Danh nhân Thế giới   101 Triết gia
Thomas Hobbes
René Descartes
Pierre Gassendi
Blaise Pascal
Baruch Spinoza
John Locke
Nicolas Malebranche
Gottfried Wilhelm Leibniz
George Berkeley
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google