Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
Tiêu điểm
Sự hình thành các thiên hà và...
Pulsar, một đồng hồ thiên...
Niên đại địa chất
Thiên văn vô tuyến và những...
Những biến đổi của bề mặt Trái đất
Những người được giải thưởng...
Phòng thí nghiệm hóa học thiên văn
Một số dạng vượn - người và...
Lược sử tiến hóa loài người
Sinh học và nguồn gốc của sinh...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Danh nhân Thế giới   101 Triết gia


DUNS SCOTUS

DUNS SCOTUS

scotus.jpg (23628 Byte)

TIỂU SỬ

            JOHN DUNS SCOTUS (~1266 – 8/11/1308) là nhà thần học, triết gia người Scotland.

            Ông ra đời tại Duns, Scotland. Sau khi thụ phong linh mục tại Northampton, Anh, ông bắt đầu nghiên cứu và giảng dạy tại Oxford và Paris và hình như tại Cambridge nữa. Cuối cùng, ông đến Cologne năm 1307.

            Ông là một trong những nhà thần học quan trọng nhất của dòng Francisc và là người sáng lập chủ nghĩa Scotus (Scotism), một hình thức đặc biệt của chủ nghĩa kinh viện. Ông được gọi là Doctor Subtills (Tiến sĩ sâu sắc, tế nhị) - có lẽ đúng theo nhìn nhận của Pascal, ông là ''một trí óc tế nhị'' (spirit of fineness) đối lập với Thomas “duy trí'', “một trí óc hình học'' (spirit of geometry) – vì sự hoà trộn tinh tế những quan điểm khác biệt.

            Tuy nhiên các triết gia sau này không quá rộng rãi lời khen như thế đối với công trình của ông và nhiều người dèm pha gán chữ dunce (người đần độn) xuất phát từ tên ông (Duns) cho các đồ đệ của ông.

            Ông mất ở Cologne và được chôn cất trong giáo đường Minorite ở Cologne. Trên quan tài ông có khắc dòng chữ Latin: “Scotia me genuit. Anglia me suscepit. Gallia me docuit. Colonia me tenet”. (Nước Scotland sinh ra tôi. Nước Anh nâng đỡ tôi. Nước Pháp dạy dỗ tôi. Cologne gìn giữ tôi). Ông được Giáo hoàng John Paul II phong thánh năm 1993.

TRI THỨC LUẬN

            Mặc dù thừa nhận một vài khía cạnh trong triết học trừu tượng của Aristotle và cho rằng, cần phải có một vài nguyên lý tiên thiên của khái niệm, những nguyên lý mà ông gán cho Augustine, Duns Scotus cho rằng, không ai trong hai người có thể đem đến sự chắc chắn cho tri thức con người. Ông phân biệt bốn cấp độ khác nhau về những sự vật chắc chắn: thứ nhất, có những sự vật chỉ khả tri, bao gồm những phát biểu nhận dạng sự thật như “Cicero là Tulyy'' và những mệnh đề, sau này được gọi là mệnh đề phân tích, như ''Con người thì có lí trí''. Theo Duns Scotus, những chân lý như thế trùng hợp với những gì làm cho chúng đúng sự thật. Hệ quả là sự phủ định một chân lý đơn giản là bất nhất ngay dù nó có thể không mâu thuẫn rõ rệt. Ví dụ, phủ định mệnh đề ''toàn thể lớn hơn bất kỳ thành phần nào của nó'' thì không mâu thuẫn rõ rệt như câu “Tuyết trắng và tuyết không trắng'' mâu thuẫn; mặc dù vậy, ''Toàn thể không lớn hơn bất kỳ thành phần nào của nó'' không thể đúng và do đó mâu thuẫn.

            Cấp độ thứ hai của sự chắc chắn là những mệnh đề bao gồm những sự vật khả tri thông qua kinh nghiệm, ở đây ''kinh nghiệm'' theo nghĩa của Aristotle là cái gì bắt gặp nhiều lần. Tri thức được cung cấp bởi kinh nghiệm dựa trên nguyên lý tri thức luận tiên thiên cho rằng, ''bất kỳ cái gì xảy ra nhiều lần bởi một nguyên nhân không khác thì nó là kết quả tự nhiên của nguyên nhân đó''. Cần phải nói rằng, sự tin chắc kiểu tiền Hume của Duns Scotus vào phép quy nạp không còn tồn tại dưới thời trung cổ. Triết gia thế kỷ XIV Nicholas xứ Autrecourt - người được gọi là ''Hume thời trung cổ'' - nói đi nói lại rằng, không có sự kết nối tất yếu giữa bất cứ hai biến cố nào và rằng, không có sự xác nhận thuần lý cho niềm tin vào những tương quan nhân quả.

            Cấp độ thứ ba về sự chắc chắn là những mệnh đề bao gồm những sự vật khả tri liên quan đến những hành động của con người. Con người biết khi nào họ thức ngay lập tức và không cần suy luận; họ biết chắc chắn rằng, họ suy tư và rằng, họ nghe và có những kinh nghiệm giác quan khác. Ngay cả khi một kinh nghiệm giác quan được gây nên bởi một cơ quan cảm giác có khiếm khuyết, vẫn đúng là người ta biết được nội dung của cảm giác; ví dụ, người ta thấy màu trắng ngay cả khi người ta lầm tưởng rằng, sự nhìn thấy đó do tuyết gây nên.

            Cấp độ thứ tư của sự chắc chắn là những đối tượng bao gồm các sự vật khả trí thông qua giác quan con người. Duns Scotus nói rằng, con người có tri thức về trời, đất, biển và mọi thứ ở trong mình. Cấp độ cuối cùng của những đối tượng là những sự vật được nhận biết chắc chắn này có vẻ như sẽ được thừa nhận mà không để ý chút gì đến sự đe dọa của chủ nghĩa hoài nghi...

            Tuy nhiên, sự diễn giải của Duns Scotus về tri thức trực giác nhằm mục đích ngăn chặn một động thái của chủ nghĩa hoài nghi chen giữa chủ tri và khách tri có thể làm cho niềm tin xa rời với đối tượng của nó. Tri thức trực giác là tri thức bất khả nghi rằng, một cái gì đó hiện hữu. Nó là tri thức ''chính xác về một đối tượng đang hiện diện (được nhận biết) như đang hiện diện và về một đối tượng hiện hữu (được nhận biết) như hiện hữu''. Hơn nữa, đối tượng của tri thức phải là nguyên nhân của tri thức. Nếu một người nhìn thấy Socrates trước mặt mình, thì, theo Duns Scotus, anh ta có tri thức trực giác rằng, Socrates có nước da trắng và rằng, Socrates và nước da trắng của ông ta tạo nên tri thức kia. Tri thức trực giác tương phản với tri thức trìu tượng, như tri thức về những phổ biến niệm (universal), vì đối với tri thức, đối tượng không cần hiện diện hay thậm chí hiện hữu. Ví dụ, vì mọi người ai cũng biết thông qua suy xét bản tính của những con chó hay những con kỳ nhông, nên cả hai đều có thể hoặc không thể hiện hữu.

            Có vẻ như tri thức trực giác là tuyệt đối; hoặc người ta có nó hoặc người ta không có nó. Nhưng đó không phải là học thuyết của Duns Scotus. Ông cho rằng, có tri thức trực giác bất toàn về quá khứ, nó chắc chắn hơn tri thức trừu tượng nhưng ít chắc chắn hơn tri thức trực giác hiện tại. Dù vấn đề này đáng tin hay không đáng tin, nhưng cần nhớ rằng, Russell cũng có cùng quan điểm như vậy như ông diễn đạt bằng thuật ngữ ''tri thức bằng sự quen biết'' (nhận thức trực giác) và ''tri thức bằng sự mô tả'' '(nhận thức trừu tượng).

            Duns Scotus phản đối luận điểm của các nhà duy lý cho rằng, triết học tự nó đầy đủ và độc lập để thỏa mãn khao khát hiểu biết của con người. Trong thực tế, ông tuyên bố, một triết gia thuần tuý như Aristotle không thể hiểu đầy đủ thân phận con người bởi vì ông không biết đến sự sa ngã của con người và nhu cầu được ân sủng và cứu chuộc của nó. Không nhận được sự mặc khải Công Giáo, Aristotle hiểu sai tình trạng sa ngã của con người, trong đó tất cả tri thức của ông đến từ các giác quan: đối tượng của tri thức sẽ cùng tồn tại với mọi hiện hữu, trong đó có sự hiện hữu của Thượng Đế. Đối với Duns Scotus, hạn chế của triết học Aristotle là không chối cãi được trong chứng cứ của Aristotle coi sự hiện hữu của Thượng Đế như nguyên nhân đệ nhất của vũ trụ. Thỏa đáng hơn chứng cứ vật lý này, theo ông, là sự chứng minh siêu hình rất khó hiểu của riêng ông về sự hiện hữu của Thượng Đế như hữu thể tối cao, độc nhất và vô cùng. Ông đưa luận cứ của Anselm vào chứng minh này. Đối với Duns Scotus, ý niệm về hữu thể vô cùng, chứ không phải nguyên nhân đệ nhất hay hữu thể tự thân, là ý niệm toàn hảo nhất về Thượng Đế.

            Trái với cái nhìn Hy Lạp - Ả Rập về sự thống trị vũ trụ từ những nguyên nhân tất yếu, Duns Scotus nhấn mạnh đến sự bất tất của vũ trụ và sự tùy thuộc hoàn toàn của nó vào ý chí sáng tạo vô biên của Thượng Đế. Ông tiếp nhận ý chí luận truyền thống của dòng Francisc, đề cao ý chí trên trí tuệ trong con người.

            Các phổ biến niệm, theo Duns Scotus, chỉ tồn tại như những khái niệm trừu tượng, nhưng chúng dựa trên những bản tính chung, như nhân loại, nó tồn tại, hay có thể tồn tại, trong nhiều cá thể. Những bản tính chung là có thực, và chúng có sự thống nhất thực của riêng chúng khác với sự thống nhất của những cá thể trong đó chúng tồn tại. Cá thể tính của mỗi cá thể là do thực tại tích cực gia tăng khiến cho bản tính chung trở thành cá thể này; ví dụ, nhân loại tính là Socrates. Duns Scotus gọi một thực tại như thế là ''sự khác biệt cá thể'' hay ''cái này''. Đây là sự phát triển độc đáo chủ nghĩa duy thực trung cổ về các phổ biến niệm.

ƯU THẾ CỦA Ý CHÍ

            Là chủ trương nổi bật nhất của Duns. Scotus trong thế chống đối với St.Thomas. Trong viễn tượng của khuynh hướng duy trí (intellectualism) nói chung, vai trò của ý chí bao giờ cũng bị khinh thị và bị liệt ngang hàng với những quan năng hạ đẳng như cảm giác, tình cảm và óc tưởng tượng. St Thomas thường gọi ý chí là một ''quan năng mù quãng'', do đó, theo Thomas, ý chí phải được lý trí hướng dẫn theo sự thiện: theo bản tính, lý trí có nhiệm vụ lĩnh hội hữu thể và chân lý trong phổ biến tính của chúng; thì cũng theo bản tính, ý chí là ước vọng sự thiện nói chung. Nếu so sánh hai quan năng này theo quan điểm đó thì lý trí xuất hiện như cao siêu và hoàn hảo hơn ý chí, vì đối tượng của ý chí bị hãm chứa trong đối tượng của lý trí.

            Scotus quan niệm duy trí của St.Thomas là một tất định thuyết (determinism), nghĩa là nếu coi lý trí là quan năng cao siêu nhất thì đương nhiên duy trí đã đóng khung, cố định hóa mọi khả năng và sáng kiến cá nhân của mọi người rồi. Chủ trương ấy chỉ có những vẻ hào nhoáng của một triết lý công giáo đích thực, vì một khi bắt ý chí phục tùng áp lực của một nguyên tắc tuyệt đối (của lý trí) như vậy, duy trí của St Thomas đã hạ nhục con người cá nhân, tiêu  diệt sự tự tin vào chính những tiềm lực của mình và phanh phui cho họ thấy hư vô của mình, từ đó mà họ thấy thất vọng rồi sa đọa xuống tình trạng thờ ơ, lãnh đạm, nhu nhược về luân lý.

            Nếu giáo hội chấp nhận hệ thống duy trí này thì đương nhiên và lập tức Giáo hội không còn là cung thánh của nhân đức nữa. Vì vậy, thay vì ưu thế của lý trí, phải đặt vào đó ưu thế của ý chí. Và thay vì tất định thuyết duy tân, cần phải đặt vào đó triết lý đích thực và tư tưởng chính thống của Aristotle, tức là lý thuyết về ý chí tự do của cả Thượng Đế và con người.

            Như thế, với quan niệm về ý chí của con người, Duns Scotus đã vượt xa khỏi những lập trường đương thời, vì theo ông ý chí không phải chỉ là một ước muốn theo lý trí suông hay một sức mạnh hay khuynh hướng bị chi phối bởi lý trí. Nói cách khác, sự tự do của ý chí không chỉ là một hệ quả hợp lý của lý trí mà thôi, nó còn là một tác động duy nhất trong số các tác động nằm trong bản tính tự nhiên của con người.

 

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Danh nhân Thế giới   101 Triết gia
Maimonides
Saint thomas aquinas
Duns scotus
William xứ Ockham
Nicholas xứ Cusa
Niccolò Machiavelli
Francis Bacon
Thomas Hobbes
René Descartes
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google